CHỦ NGHĨA DÂN TỘC SINH TỒN


- Tài Liệu Huấn Luyện -

Phần I

I - Lời Mở Đầu:

Như chúng ta đă biết, từ xưa đến nay, mọi sự giao dịch giữa các quốc gia trên thế giới đều lấy “chính trị” làm khởi điểm cho mọi sự giao hảo hay tranh chấp về quyền lợi giữa hai quốc gia. Chừng nào giải pháp chính trị không xong bấy giờ người ta mới đi tới giải pháp “quân sự”. Đó là người ta thực hành câu: “Tiên lễ hậu binh”. Chữ Lễ ở đây chỉ là một thủ thuật trong sách lược chính trị.

V́ chính trị là sự sinh hoạt chính yếu của quốc gia, nên các cá nhân có tham vọng lănh đạo quốc gia mới đứng ra thành lập một tập thể gồm những người có tư tưởng giống nhau. Tập thể này được gọi là “Đảng”. Tùy theo mục đích theo đuổi và lập trường mà họ chọn một danh xưng cho Đảng. Chung quy các đảng nói trên được gọi là đảng chính trị nhằm thực hiện một tư tưởng mà đảng cho là siêu việt. Tư tưởng đó được mọi đảng viên đặt trọn niềm tin suốt cả cuộc đời dù phải hy sinh thân mạng để thực hiện cho kỳ được. Cái tư tưởng đó được gọi là “lư tưởng” mà một cá nhân nào cũng chỉ có một lư tưởng (duy nhứt) mà thôi.

Để thực hiện lư tưởng của ḿnh, các lănh tụ đảng phải trải qua nhiều giai đoạn sau khi thành lập đảng. Từ việc đại diện đảng ra tranh cử vào các cơ quan lập pháp hay hành pháp đến việc tham chánh (nếu đắc cử), họ được xem là một chánh khách. Trong khi thừa hành một chức vụ dân cử, họ có quyền định đoạt vận mạng của quốc gia.

Nhưng có phải chỉ có những người được mệnh danh là lănh tụ mới làm chính trị c̣n kỳ dư đều không làm chính trị? Không phải vậy! Tất cả mọi công dân - trừ kẻ mất trí - cầm lá phiếu để bầu chọn một ứng viên của một Đảng là họ đă “làm chính trị” hay nói đúng hơn, là họ đă “có một thái độ chính trị”. Thaí độ đó là họ đă góp phần chọn lựa một nhân vật nào hoặc một Đảng nào để lănh đạo đất nước., mà với lá phiếu họ đă (hay sẽ) làm lệch cán cân nếu trường hợp hai ứng viên hay hai Đảng có một tỷ số phiếu tương đương. Nếu không có lá phiếu của họ th́ biết đâu trọng quyền rơi vào tay một nhân vật bất tài hay một Đảng bất xứng th́ thật là tai hại. Nếu một cử tri bầu đúng người, đúng Đảng th́ họ đă gián tiếp đem lại lợi ích cho quốc gia trong đó có lợi ích bản thân họ.

V́ chính trị có ảnh hưởng đến vận mạng người dân nên mọi lănh tụ đều giải thích ư nghĩa danh từ chính trị như thế nào có lợi cho đường lối, lập trường của họ hầu mua
chuộc cảm t́nh người dân. Đa phần họ giải thích một cách phiến diện và mị ân để đạt 
được mục tiêu mà họ đang nhắm, nhưng khi đă nắm được chính quyền rồi th́ đối với họ dân chỉ là công cụ cho họ xử dụng như từng xảy ra ở các nước độc tài đảng trị (Đức, Ư và Liên Sô trước kia) và vẫn c̣n tiếp tục ở các nước Cộng Sản (trong đó có Việt Nam) hiện nay.

Cái định nghĩa danh từ ”Chính trị” hoàn hảo và đứng đắn nhứt được nhiều người chấp nhận là định nghĩa của Bác sĩ Tôn Dật Tiên (Tôn Văn), người được nhân dân Trung Hoa suy tôn là Quốc Phụ (cả Quốc gia lẫn Cộng Sản). O^ng giải thích: “Chính là việc của dân, Trị là cai trị. Làm chính trị là quản lư công việc của dân”. Cũng từ định nghĩa nầy ma chúng ta có những danh từ như: Chính phủ, chính quyền, hành chánh, v .v . . . . để gọi các cơ quan quản lư công việc của dân từ trung ương đến địa phương.

V́ đó mà mục tiêu tối hậu của mọi đảng chính trị là nắm được chính quyền để có phương tiện và quyền hạn hầu lo cho dân theo đường lối, chính sách của đảng ḿnh. Mà muốn trở thành đảng cầm quyền th́ đảng phải được sự hậu thuẩn mạnh mẻ của đa số cử tri qua các cuộc đầu phiếu. Và dân chúng chỉ hậu thuẩn cho đảng nào đưa ra đuợc một chủ thuyết chính trị hợp lư mà qua chủ thuyết nầy người dân có thể tin tưởng vào tương lai huy hoàng của dân tộc.

Muốn được vậy, chủ thuyết phải qua nhiều giai đoạn từ nghiên cứu đến chọn lọc hầu rút tỉa một số tư tưởng đúng đắn nhứt kết hợp thành một chủ nghĩa chính trị khả dĩ thỏa măn được nguyện vọng của đa số nhân dân mà nhứt là nó phải thích hợp với hiện t́nh đất nước lúc bấy giờ.

II - Sự cần thiết của một chủ nghĩa chính trị hợp lư:

Nhằm mục đích t́m một chủ nghĩa chính trị hợp lư mà Đảng Trưởng Trương Tử Anh đă để ra rất nhiều thời gian nghiên cứu các chủ thuyết chính trị xuất hiện từ trước đến nay trên thế giới. Sau đó Người nhận định:
Ngoài chủ nghĩa Phát-Xít và Quốc Xă đă phạm vài lỗi lầm rất lớn là không lấy việc phụng sự con người làm cứu cánh, th́ các lư thuyết Dân Chủ, Xă Hội và Tam Dân có tiến bộ hơn v́ đă biết lấy người làm trung tâm điểm cho mọi hoạt động chính trị cùng mưu cầu hạnh phúc cho mọi người. Tuy nhiên, các chủ nghĩa nầy lại phạm vào lỗi lầm khác không kém quan trọng là không xây dựng những nguyên tắc căn bản của ḿnh trên con người thật sự, con người bằng xương bằng thịt đang sống trên đời.

Con người tự do b́nh đẳng của lư thuyết Dân Chủ hay con người kinh tế của lư thuyết Xă Hội Duy Vật, chỉ là những con người hư ảo hay là những h́nh bóng khiếm khuyết 
về con người. Đó là v́ những tác giả của những lư thuyết ấy chỉ quan sát riêng xă hội trong đó họ sống để lập thuyết, và trong sự quan sát nầy họ chỉ nhắm vào những tệ đoan làm cho con người khổ sở, cụ thể như:
- Locke, Rousseau và Montesquien chỉ quan tâm đến sự thiếu tự do, b́nh đẳng của xă hội A^u Châu vào thế kỷ XVII và XVIII.
- Marx chỉ nhằm vào sự bốc lột lao động của những nhà tư bản thế kỷ XIX.
- Tôn Văn chỉ chú trọng nhiều nhất đến cảnh dân tộc Trung Hoa bị liệt cường uy hiếp và chi phối.

Sự quan sát trong phạm vi hẹp ḥi đă đưa các lư thuyết gia trên đến cái phản ứng tự nhiên là đánh đổ những chế độ cũ để cải tổ lại cho nó tốt đẹp hơn. Nhưng trong sự xây dựng xă hội mới họ lại không nghiên cứu đến bản chất con người mà lại nêu ra một định lư là con người vẫn tốt và có đủ đức tánh để tạo ra một xă hội hoàn hảo. Đó là những chủ trương xây dựng xă hội mới của họ đều là những chủ trương không tưởng. Điều nầy không có chi lạ. Con người dù có thông minh tài trí đến đâu cũng chỉ là một phần tử nhỏ nhặt của vũ trụ. Do đó con người không thể sửa đổi bản chất của vũ trụ và không thể đi trái với những định luật thiên nhiên chi phối vũ trụ.

Những định luật thiên nhiên nầy con người đă cảm thấy tự ngàn xưa và hiểu rằng trong thế giới có một trật tự hiển nhiên: mặt trời sáng mọc phương Đông, chiều lặn phương Tây, mặt trăng bao giờ cũng tṛn khuyết theo một chu kỳ nhất định, sự luân chuyển ngày đêm và bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông không khi nào sai lạc. Do đó, con người đă biết tổ chức sự sinh hoạt của ḿnh như cày cấy, chăn nuôi, săn bắn, chài lưới, cho hợp với thời tiết.

Hơn nửa, con người c̣n biết những định luật thiên nhiên nầy đều bất di bất dịch, sức người không chống lại nổi. Cho nên muốn điều khiển thiên nhiên, con người chỉ có cách duy nhứt là phải tuân theo nó.

A'p dụng khẩu hiệu nầy vào ky~ nghệ con người đă thực hiện được nhiều công tŕnh vĩ đại như dùng sức nước, ánh sáng mặt trời tạo ra những nguồn năng lực mạnh mẽ, chế ngự vật chất để bắt nó phụng sự đời sống của ḿnh. Ngoài ra, con người c̣n áp dụng những định luật ấy vào đời sống hằng ngày của ḿnh. Những thuật dưỡng sinh, những cách ngừa bịnh và trị bịnh, những phương pháp giáo dục, tuyên truyền vận dụng quần
chúng v. .v . . . đều dựa vào các định luật thiên nhiên nầy. Con người hiểu rằng càng đi sát với định luật thiên nhiên con người càng dễ thành công.

Nhưng trong sự xây dựng những chủ nghĩa chính trị, con người lại gạt qua một bên những định luật thiên nhiên mà chỉ lưu tâm đến những nguyện vọng, mơ ước của ḿnh. Con người không thay đổi được bản chất vũ trụ và đi ngược lại các định luật thiên nhiên; nếu có được cũng chỉ đưa đến những kết quả tai hại cho con người. Cho nên những chủ nghĩa xây dựng trên những nguyên tắc không phù hợp với các định luật thiên nhiên chi phối đời sống con người tất nhiên phải thất bại.

Vậy, muốn xây dựng một xă hội tốt đẹp, ta cần phải có một chủ nghĩa chính trị hợp lư hơn. Chủ nghĩa nầy không những phải nhằm mục đích phụng sự con người, mà c̣n phải có đủ điều kiện phụng sự con người một cách đắc lực. Nó phải giải quyết mọi vấn đề theo quan điểm con người, nhưng không thể dựa vào những ảo vọng không tưởng của con người như các chủ nghĩa Dân Chủ, Xă Hội và Tam Dân đă làm, mà phải dựa vào những nhận xét xác thật về đời sống con người và về những tương quan giữa người với thế giới bên ngoài.

Để xây dựng chủ nghĩa chính trị hợp lư nầy ta phải nghiên cứu về vị trí con người trong vũ trụ, về bản chất con người, về những động cơ thúc đẩy con người hoạt động và những điều kiện hoạt động của con người.

Qua nhận định trên đây Đảng Trưởng đă đề xuất ra chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn làm nền tảng lư thuyết cho Đại Việt Quốc Dân Đảng.

III - Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn:

Con người là một sinh vật chiếm một phần nhỏ nhứt của vũ trụ, do đó, phải chịu sự chi phối của các định luật thiên nhiên. Chủ nghĩa chính trị hợp lư cần phải hiểu rơ về con người.

Nói một cách khái quát th́ con người là một tổng thể thuần nhứt gồm thể xác và tâm hồn trộn lẫn nhau một cách chặt chẽ. Cơ thể con người là một tập hợp phức tạp của nhiều tế bào tuy rất yếu mềm nhưng lại rất dẻo dai bền bĩ nhờ nhiều khả năng giúp cho nó tự bồi bổ, tự biến cải để đối phó với t́nh thế. Tâm hồn con người biểu lộ qua những hoạt động tâm lư của người. Sự quan sát cho ta thấy con người có trí thông minh, có t́nh cảm, có năng khiếu luân lư, thẩm mỹ và có ḷng tín ngưỡng cùng khuynh hướng thần bí.

V́ là một tổng thể thuần nhứt nên giữa những hoạt động tâm lư và sinh lư của người có một tương quan chặt chẽ. Những sự thay đổi trong cơ thể đưa đến sự thay đổi trạng thái ư thức. Bù lại, tâm lư cũng có thể qui định trạng thái, quan năng của cơ thể. Bởi đó, người suy nghĩ, buồn giận, thương ghét với tất cả cơ quan trong thân thể ḿnh.

A - Căn Bản của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn:
1 - Định luật sinh tồn:

Trong sự hoạt động hàng ngày cũng như trong sự ứng phó với ngoại giới, con người tuỳ thuộc một cách chặt chẽ vào những bản năng tức là những khuynh hướng tự nhiên thúc đẩy con người hoạt động. Ta có thể phân biệt ba loại bản năng là: - bản năng vị kỷ, - bản năng t́nh dục - bản năng xă hội.

Những bản năng vị kỷ nhằm vào việc bảo vệ sự sống c̣n của cá nhân, những bản năng t́nh dục hướng đến sự bảo vệ sự sống c̣n của chủng loại; những bản năng xă hội th́ có mục đích tạo những điều kiện cần thiết cho sự tập hợp nhiều người thành xă hội. Sự sống thành xă hội này vừa có lợi cho sự sống c̣n của cá nhân, vừa có lợi cho sự sống c̣n của chủng loại.

Các loại bản năng này thật ra không phải hoàn toàn phân biệt nhau, mà tác động qua lại với nhau,lắm khi ḥa hợp với nhau, nhưng dầu trong trường hợp nào, chúng cũng đều hướng chung về một mục đích duy nhứt là mưu sự sống c̣n cho con người. Như vậy, chúng ta có thể xem tất cả các bản năng của con người là những h́nh thức khác nhau của một bản năng duy nhứt, đó là: Bản năng sinh tồn.

Bản năng sinh tồn là một bẩm tánh thiên nhiên, hổn hợp với cơ thể con người; nó phát hiện khi con người mới sinh ra và chỉ tiêu diệt khi con người chết đi. Do đó, nó chi phối hết cả đời sống của con người từ lúc con người mới cất tiếng chào đời cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. V́ bản năng sinh tồn mà con người có một ư chí sinh tồn mạnh mẽ. Ư chí sinh tồn phát hiện một cách rơ rệt trong tất cả mọi hoạt động của con người.

Con người hoạt động để làm ǵ? Nghiên cứu kỹ sự hoạt động của con người từ xưa đến nay, chúng ta thấy rằng mục đích chính yếu của con người là mưu sự sống c̣n cho ḿnh.

Về mặt tinh thần, con người muốn được tự do phát biểu t́nh cảm, tư tưởng, theo đuổi nguyện vọng và tổ chức đời sống riêng của ḿnh theo sở thích.

Hơn nữa, con người c̣n muốn đem sự sống ra ngoài bản thân ḿnh, muốn cho những vật chung quanh ḿnh mang một phần sự sống của ḿnh, đồng loại ḿnh chịu ảnh hưởng của ḿnh.

Sau hết, con người cũng muốn rằng sau khi ḿnh chết đi, một phần sự sống của ḿnh c̣n lưu lại trần thế. Ḷng ham muốn có một đứa con nối dơi tông đường, sự cố gắng để tạo ra một tác phẩm nghê thuật , một công tŕnh vĩ đại hay một sự nghiệp hiển hách, sự tha thiết muốn tuyền bá tư tưởng của ḿnh cho kẻ khác, sự nổ lực để ngự trị đồng loại v .v . . . Bao nhiêu sự việc đó chứng tỏ rằng con người muốn bành trướng sự sống của ḿnh.
Duy tŕ sự sống c̣n của ḿnh về hai mặt vật chất và tinh thần, trong hiện tại và tương lai, làm cho sự sống c̣n của ḿnh dễ dàng sung sướng và bành trướng măi ra để có thể truyền sự sống quanh ḿnh trong khi ḿnh c̣n sống và sau khi đă chết.
Nói tóm lại, sinh hoạt và tồn tại (tức sống và c̣n). Đó là tất cả mục đích hoạt động của con người. Tất cả cuộc đời của con người đều quây quần chung quanh hai chữ SINH TỒN! Sinh Tồn về vật chất, sinh tồn về tinh thần, sinh tồn về cá nhân, sinh tồn về chủng loại.

Vậy xét kỹ những nguyên tắc làm căn bản cho những chủ nghĩa khác, chúng ta thấy rơ rằng chủ nghĩa nào cũng phát sinh để giải quyết sự sinh tồn của dân chúng trong một nước nhứt định và trong một thời kỳ nhứt định. V́ đó, nó chỉ có tính cách địa phương và tạm thời, không vượt nổi không gian và thời gian.
V́ chỉ lo giải quyết những vấn đề đương thời, những nguyên tắc này không bao quát được cả vấn đề phụ như tự do, b́nh đẳng, giai cấp đấu tranh . v .v . . . . do t́nh trạng phát triển xă hội mà ra.

2 - Tánh Vị Kỷ:

Con người có một ư chí sinh tồn rất mạnh. Tất cả mọi hoạt động của con người đều do bản năng sinh tồn chi phối và đều qui vào mục đích sinh tồn.

Tuy nhiên, giá trị của mỗi người không phải đều bằng nhau. Trong mỗi con người đều có cái thú tánh tàn bạo nằm kế bên cái thiên lương thuần hậu. Trong sự hoạt động sinh tồn của ḿnh, có người hoàn toàn nô lệ những thú tánh của ḿnh, nhưng cũng có người chế ngự được chúng để phát triển thiên lương, hướng nó đến một đời sống tinh thần cao thượng.

Nhưng dù nô lệ thị dục hay chế ngự được chúng, con người cũng bị chi phối bởi tánh vị kỷ. Tánh vị kỷ có thể là ngu tối thiển cận, nhưng cũng có thể là sáng suốt khôn ngoan.

Danh từ vị kỷ thường được hiểu theo nghĩa hẹp hàm ư xấu xa, chỉ biết có ḿnh, chỉ nghỉ đến những quyền lợi thấp hèn, những thỏa măn thô bạo. Nhưng ở đây,chúng ta nên hiểu vị kỷ theo nghĩa rộng là “có khuynh hướng dựa vào ḿnh, lấy ḿnh làm gốc trong mọi việc và qui mọi việc về ḿnh”.

Trong đời sống hằng ngày, con người bao giờ cũng nghĩ đến ḿnh, cũng lo cho ḿnh trước hết. Đó là điều tự nhiên. Nhưng ngoài những hành động có tánh vị kỷ hẹp ḥi hiện ra một cách rơ ràng, con người c̣n có những hành động cao thượng đượm nhiều tánh cách vị tha. Đối với số đông con người, những hành động đặc biệt này không hàm chứa chút nào ḷng vị kỷ, nhưng nếu suy xét kỷ, ta sẽ nhận thấy rằng nó chỉ là tánh vị kỷ hiểu theo nghĩa rộng, một sự vị kỷ sáng suốt và khôn ngoan.

V́ vị kỷ lấy ḿnh làm gốc trong mọi việc và qui mọi việc về ḿnh, nên lúc nào con người cũng hành động theo sự đ̣i hỏi của tánh vị kỷ. Trong lănh vực tư tưởng và nghệ thuật, con người chỉ khen những ǵ hợp với ư ḿnh và bài xích những ǵ không làm ḿnh ưa thích. Trong lănh vực tôn giáo cũng thế, con người thờ cúng lễ bái, là để cầu cho thần minh pḥ hộ ḿnh hay không làm hại ḿnh. Cả đến những người mộ đạo, họ thành tâm tu niệm là để dinh dưỡng tánh t́nh, cho tâm hồn được thảnh thơi và sau khi chết đi linh hồn ḿnh tiêu diêu về nơi vĩnh cữu.

Ngoài ra, tánh vị kỷ c̣n xuất hiện trong t́nh thương gia đ́nh, ḷng yêu nam nữ, sự hy sinh cho đại nghĩa, cả đến sự quyên sinh nữa.

Trong lănh vực gia đ́nh, cha mẹ thương con không những v́ con là một phần máu huyết của ḿnh mà c̣n v́ cha mẹ đă đổ nhiều công lao nuôi nấng con nên mới triù mến con nhiều, như người nông phu tŕu mến mảnh đất mà họ đă dầy công vun xới.

Trong t́nh yêu nam nữ, trai gái yêu thương nhau v́ hạp tánh nhau, muốn trao đổi tâm t́nh với nhau hoặc nương tựa nhau một đời. Sự ghen tương của họ cũng là biểu hiện của tánh vị kỷ, v́ khi yêu nhau, người ta muốn cho người yêu chỉ biết có ḿnh, không
được nghỉ đến một ai khác nữa. Cũng v́ lẽ nầy, những kẻ si t́nh, v́ ḷng vị kỷ quá độ,
nên thà thấy người ḿnh yêu chết ngay trước mắt hơn là để họ ôm cầm sang thuyền khác.

Trường hợp những người quyên sinh cũng thế. Sống mà bị tuyệt vọng, bị xấu hổ, nhục nhă hay phẩn uất, th́ thà chết c̣n hơn, mỗi khi sự đau khổ đă trở thành một cực h́nh không thể chịu nổi th́ cái chết là sự giải thoát đối với họ.

Cả đến những trường hợp xă thân v́ đại nghĩa, hy sinh cho tổ quốc, hy sinh cho tôn giáo, cũng hàm chứa tính chất vị kỷ bên trong. Khi v́ tổ quốc, v́ tôn giáo mà xă thân, con người đă quyết tâm bảo vệ h́nh thức sinh tồn mà họ tôn kính. H́nh thức sinh tồn đó là lẽ sống của họ. Xă thân để tranh đấu cho lẽ sống đó, họ cảm thấy sung sướng hơnlà chấp nhận một cuộc sống thừa của kiếp nô vong.

Như vậy, ngay cả những hành động có tánh cách vị tha, chúng ta cũng nhận thấy có dấu vết của tánh vị kỷ. Thật ra, sự vị tha chỉ là một h́nh thức đặc biệt của sự vị kỷ; nó là sự vị kỷ rộng rải và sáng suốt. Bởi đó, chúng ta không nên xem sự vị tha và vị kỷ là hai t́nh cảm trái ngược nhau. Vị tha và vị kỷ ḥa hợp nhau làm một và người ta không thể nào hủy diệt ḷng vị kỷ, chỉ để lại ḷng vị tha.

Tóm lại, sự vị kỷ (hiểu theo nghĩa rộng) là kết quả tự nhiên của sự sinh tồn. Sự sinh tồn bắt buộc con người phải vị kỷ và dầu muốn dầu không, con người cũng không sao thoát khỏi sự vị kỷ nầy. Nhưng sự vị kỷ có thể hẹp ḥi hay rộng răi, ngu độn hay sáng suốt, và giá trị đạo đức của mỗi người tùy ở chỗ người vị kỷ một cách rộng răi hay hẹp ḥi, sáng suốt hay ngu độn mà thôi.

Như vậy, muốn cho người phụng sự quyền lợi chung, phương pháp hay nhứt là làm cho họ thấy rằng quyền lợi riêng của họ nằm trong quyền lợi chung ấy. Những chế độ chính trị, luân lư, luật pháp, không dựa vào sự vị kỷ của người giống như cây cối không bón phân, không thể nào sản xuất được những hoa thơm quả ngọt vậy.

3 - Luật Tranh Đấu:

Chúng ta đă thấy rằng sự sinh tồn là động cơ duy nhứt thúc đẩy con người hoạt động. Giờ chúng ta hăy xem con người phải làm ǵ và phải tuân theo những điều kiện nào trong sự hoạt động để đạt mục đích ấy.

Muốn sinh tồn, con người phải bảo vệ thân ḿnh và phải nuôi dưỡng nó, phải chống lại các mối nguy có thể làm hại tánh mạng ḿnh và t́m những món ăn uống cho no

đủ. Vậy muốn sinh tồn, con người phải tranh đấu. Tranh đấu là điều kiện căn bản của sự sinh tồn. Sự tranh đấu này, chúng ta nên hiểu theo nghĩa rộng: nó là sự cố gắng của một sinh vật để thắng một sinh vật khác, là làm một việc có ích lợi cho ḿnh mà không có lợi hay có hại cho sinh vật khác.

Loài người từ xưa đến nay luôn luôn tranh đấu với ba trở lực là thiên nhiên, cầm thú và đồng loại. Cuộc tranh đấu với ba trở lực này đồng thời với nhau: con người vừa phải cất nhà để tránh mưa nắng, vừa phải giết thú vật để ăn, vừa phải cạnh tranh với đồng loại.
Không những tranh đấu với những trở lực bên ngoài, con người c̣n phải tranh đấu với nội tâm để chế ngự những thị dục thấp hèn của ḿnh, buộc ḿnh phải theo những qui phạm do ḿnh nêu ra. Cuộc tranh đấu với nội tâm ḿnh đă được ghi lại trong kinh sách của các tôn giáo.

Người ta đă dùng nhiều từ ngữ chiến tranh để dạy con người theo đạo như “diệt trừ lục tặc”, “dùng gươm trí tuệ, để cắt đứt trần duyên”, v. v. v. . . .

Tóm lại, sống là phải tranh đấu. Sự tranh đấu sinh tồn là một định luật cốt yếu của đời sống con người, nó là một hiện tượng đại đồng và bao quát tất cả các thời đại. Nó là một cái ch́a khóa giải thích tất cả các biến cố lịch sử. Nó c̣n là điều kiện để tiến hóa và con người không sao tránh nó được.

Cuộc tranh đấu có khi ôn ḥa, có khi bạo tợn. Nuôi thú vật làm gia súc, tranh đua nhau trong những cuộc tŕnh diễn thể thao, cạnh tranh nhau trên mặt trận kinh tế hay bút chiến để bảo vệ lập trường và tư tưởng của ḿnh, đều là những h́nh thức tranh đấu ôn ḥa. Ngược lại, những cuộc chiến tranh dân tộc, giải phóng, tôn giáo . . . đều là những h́nh thức đấu tranh bạo tợn.

4 - Luật Sức Mạnh:

Muốn nắm phần thắng lợi cho cuộc tranh đấu, con người phải có sức mạnh vật chất và tinh thần. Trong lịch sử tranh đấu loài người, sức mạnh bao giờ cũng là yếu tố chánh mang lại sự thắng lợi. “ Mạnh được yếu thua” đó là công lệ xưa nay không ai phủ nhận. Bởi đó, mặc dầu nhiều người đă lên tiếng phản đối cường quyền, bạo lực, nhưng thật ra không ai phản đối sức mạnh. Bên trong quốc gia, trật tự duy tŕ được là nhờ ở sức mạnh, trên trường quốc tế, ảnh hưởng của một dân tộc đối với một dân tộc khác là do nơi tương quan thế lực giữa các dân tộc ấy.

Ngay đến luật pháp và công lư mà người ta nêu ra để đối lại nguyên tắc sức mạnh, thật ra cũng phải nhờ đến sức mạnh mới hiệu quả. Người Pháp đă có câu: “Không có những người Hiến binh, những vị Thẩm phán chỉ là những anh chàng vớ vẫn”.

5 - Luật Biến Cải:

Sức mạnh đă biến vai tuồng quan trọng trong sự tranh đấu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, sức mạnh không đủ để mang lại sự thắng lợi cho con người. Do đó, ngoài sức mạnh, con người cần có một khả năng khác. Đó là khả năng biến cải hay xu hướng biến cải.

Xu hướng biến cải giúp con người uốn ḿnh theo hoàn cảnh, tự thay đổi năng lực ḿnh để ứng phó với những điều kiện bất thuận lợi, và dùng sức mạnh của ḿnh một cách thích hợp với thời thế.

Xu hướng biến cải có hai loại:

- Xu hướng biến cải tự nhiên của những sinh vật hạ cấp như loài sâu bọ biết đổi màu, đổi h́nh cho tiệp với màu của lá hay h́nh của nhánh cây để chim không thấy và ăn thịt nó, như rễ cây hướng về phiá có nước .v .v . . . .
- Xu hướng biến cải của những sinh vật cao cấp như con người. Trước một t́nh thế khó khăn, con người biết t́m phương lược để giải quyết, lại có ư chí và nghị lực giúp ḿnh thi hành phương lược ấy. Những mưu lược của các nhà quân sự, chủ trương “xét lại” của Liên Sô . . . đều là xu hướng biến cải của những sinh vật cao cấp.

Nhờ làm chủ được xu hướng biến cải của ḿnh, con người đă đạt được những thắng lợi trong sự tranh đấu với thiên nhiên và loài thú nên mới sinh tồn được đến ngày nay., không những thắng lợi, con người c̣n tiến hóa nữa. Con người bây giờ tranh đấu với thiên nhiên và loài thú dễ dàng hơn con người ngày xưa gấp bội. Nhờ những khí giới tinh xảo mà con người đă chế tạo được.

Con người sở dĩ tiến hóa được là nhờ biết truyền dạy cho nhau những xu hướng biến cải đă từng giúp con người thắng lợi. Những biến cải này nhờ nhiều người, nhiều đời 
tích tụ lại nên thành một kho tàng kinh nghiệm rất quí báu giúp cho con người hiểu biết thiên nhiên và tranh đấu càng ngày càng dễ dàng hơn trước. Sự truyền dạy cho nhau những xu hướng biến cải đă giúp con người thành công đưa đến sự hợp quần.

6 - Luật Hợp Quần:

Muốn dạy dỗ nhau phải có nhiều người, v́ một người đơn độc không thể nào học ai hoặc dạy ai được. Sự tập hợp nhiều người lại với nhau gọi là hợp quần. Hợp quần tạo ra sức mạnh. Kinh nghiệm cho ta thấy rằng một người đơn độc dầu có sức mạnh và có xu hướng biến cải cường kiện đến đâu cũng không thể đương đầu được với mọi cảnh ngộ. Bởiđó, con người phải hợp quần nhau lại để tranh đấu chung nhau. Câu “ nhứt hổ nan địch quần hồ” ngụ ư cho ta hiểu rằng cọp là chúa sơn lâm đấy, nhưng sức một ḿnh cũng không chống nổi bầy chồn.

Quan sát lịch sử nhân loại, ta thấy phạm vi hợp quần của con người có xu hướng càng ngày càng mở rộng từ cá nhân đến gia đ́nh, gia đ́nh đến thị tộc, thị tộc đến bộ lạc, bộ lạc đến dân tộc.

Nhưng phạm vi hợp quần càng rộng th́ người hợp quần càng ít đồng nhứt, t́nh cảm cùng sự liên lạc giữa cá nhân càng bớt mật thiết và sự tổ chức của con người càng bớt chặt chẽ. Khi sự hợp quần mở rộng đến một phạm vi nào đó th́ con người bắt đầu lo cho sự sinh tồn riêng của ḿnh nhiều hơn là lo cho sự sinh tồn chung. Mặt khác, chúng ta thấyxuất hiện bên trong đoàn thể lớn, những đoàn thể nhỏ qui tập những người có quyền lợi vật chất hay tinh thần giống nhau như các đảng phái chính trị, các đoàn thể tôn giáo, các tổ chức nghiệp đoàn, văn đoàn, các hội ái hữu, tương tế, v. v . . .

Trong sự hợp quần người ta tuân theo những định luật ǵ? Nh́n ra xă hội, chúng ta thấy có nhiều h́nh thức hợp quần.

Trước hết, con người hợp quần theo huyết thống trong phạm vi gia đ́nh. Kế đó, con người hơp quần theo tâm tánh để kết bạn với nhau, hợp quần theo tín ngưỡng để đứng chung trong một giaó hội, hợp quần theo nghề nghiệp để tổ chức các nghiệp đoàn, hợp quần theo tư tưởng để lập ra những văn đoàn, những chánh đảng . . . 

Những h́nh thức hợp quần kể ra rất nhiều, nhưng tựu trung con người hợp quần theo ư thức đồng loại, nghĩa là hợp quần khi thấy rằng giữa họ có cái ǵ chung nhau. Câu ngạn ngữ: “ Ngưu tầm ngưu, , mă tầm mă” (Trâu t́m trâu, ngựa t́m ngựa) của người Tàu hoặc “Qui se ressemble s’assemble” (Ai giống nhau th́ hợp lại với nhau) của người Pháp đă chứng minh điều nầy một cách rơ ràng.

Sự hợp quần theo ư thức đồng loại là một khuynh hướng tự nhiên: người hợp quần với kẻ giống ḿnh, như gà vịt luôn đi theo bầy của chúng.

Người đồng loại có những quyền lợi chung với nhau. Họ hợp quần nhau để bảo vệ những quyền lợi chung ấy. Mặt khác, những người giống nhau th́ cảm thấy gần nhau, thương nhau, v́ họ theo xu hướng tự nhiên là người thích những kẻ gần ḿnh hơn những kẻ không giống ḿnh. Nếu quyền lợi cá nhân được bảo đảm như nhau th́ người chịu hợp quần với những kẻ giống ḿnh hơn là hợp quần với những kẻ không giống ḿnh.

Như vậy, sự tương đồng là một yếu tố quan trọng trong sự hợp quần của loài người. Nó cùng với yếu tố quyền lợi cá nhân là những định luật chi phối sự hợp quần một cách mạnh mẽ.

Những loại tương đồng quan trọng là tương đồng chủng loại, tương đồng tâm tánh, tương đồng tư tưởng, tương đồng hoàn cảnh.

Những nhà lănh đạo quần chúng, từ trước. đă nhận thấy rơ sự quan trọng của yếu tố tương đồng. Do đó , họ cố lợi dụng nó để làm cho đoàn thể họ được vững chắc. Ngoài thể chất, ngôn ngữ, văn tự giống nhau, họ cố tạo thêm những sắc phục, kỳ hiệu, phù hiệu để cho người trong đoàn thể nhận ra nhau và thấy ḿnh giống nhau hơn.

Vậy, ư thức đồng loại là điều kiện căn bản của sự hợp quần. Sự tương đồng càng lớn th́ sự hợp quần càng chặt chẽ. Bởi đó, muốn duy tŕ sự hợp quần, người ta phải cố tăng cường yếu tố tương đồng.

Những cuộc xung đột giữa các tập thể loài người trong lịch sử đă gây ra nhiều cảnh thương tâm thảm mục khiến cho nhiều người đau xót. V́ vậy, từ lâu, nhiều người đă mơn trớn mộng thế giới đại đồng, kêu gọi nhân loại kết hợp nhau lại thành một khối duy nhứt chấm dứt sự tranh chấp lẫn nhau để cùng nhau sống trong t́nh huynh đệ thân ái.

Nhưng nhân loại có thể sống ḥa b́nh măi măi với nhau được không ? ? ?

Thế giới đại đồng có thể thực hiện được không? ? ?             Đọc tiếp Phần II