Phần II

B - Thế giới đại đồng; giấc mơ không bao giờ thực hiện được:

Người Cộng Sản quả quyết rằng thế giới đại đồng có thể thực hiện được. Họ cho rằng sở dĩ những người chủ trương thế giới đại đồng chưa thành công là v́ chủ nghĩa của họ chỉ mới xuất hiện từ năm 1848 nên chưa đủ thời gian truyền bá trên khắp hoàn cầu để gây ra cuộc cách mạng cần thiết.

Thật ra, tư tưởng thế giới đại đồng đă có từ lâu. Có lẽ nó đă xuất hiện từ lúc con người thành lập được những xă hội rộng răi và ổn định. V́ thế giới đại đồng là kết quả của những bản năng, những dục vọng tốt và xấu của con người: một bên là ḷng tham lam muốn hưởng được sự sung sướng như những người đă thành công mà khỏi phải làm việc nặng nhọc, một bên là cái hảo ư muốn thành lập thế giới trong đó con người hoàn toàn b́nh đẳng với nhau và công lư được thi hành triệt để.

Lúc con người c̣n tin tưởng nơi thần quyền th́ các lư thuyết đại đồng dựa vào ư muốn của thần thánh và kêu gọi nhân loại hợp nhất nhau lại. Khi thần quyền chấm dứt, lư trí đăng quang, người ta nhơn danh lư trí mà chủ trương thế giới đại đồng. Đến lúc khoa học được xem là vị chúa tể vạn năng, người ta phải sửa đổi chiến thuật, đặt nền tảng của thế giới đại đồng trên những luận thuyết có vẻ khoa học. Bởi thế, bản tuyên ngôn của Karl Marx không phải là khởi điểm của tư tưởng thế giới đại đồng. Nó chỉ là một sự xoay chiều của chủ nghĩa đại đồng từ duy tâm sang duy vật mà thôi.

Trước Karl Marx, đă có biết bao nhiêu người chủ trương nhơn loại cần phải hợp nhứt lại để sống ḥa b́nh với nhau. Trong số các người nầy, chúng ta phải kể trước tiên là những giáo tổ các tôn giáo lớn như Phật Thích Ca, Chúa Giê-Su, v. v. . . . Kế đó là những nhà đại hiền triết được nhơn loại tôn sùng như: Khổng Tử, Mạnh Tử, Mặc Tử, Platon, Aristote, v .v . . . .. Sau cùng, lại c̣n những nhà chính trị không tưởng như Saint Simon, Owen, Fourier, Proudhon . . . những văn gia học giă giàu ḷng nhân đạo mong muốn thấy nhân loại thương yêu nhau, giúp đỡ lẫn nhau.

Những người nầy đều được nhân loại mến phục, tôn sùng. Aûnh hưởng của họ lan rộng khắp năm châu và tồn tại qua nhiều thế kỷ; nhưng rốt cuộc, thế giới đại đồng vẫn không thể thực hiện được. Như thế, là v́ có những nguyên nhân sâu xa chia rẽ loài người khiến cho họ không bao giờ hợp nhất được trong phạm vi thế giới.
Những nguyên nhân chia rẽ nầy gồm có các nguyên nhân chính sau đây:

1 - Về vật chất: Sự cung cầu chênh lệch nhau:

Cho đến ngày nay số vật liệu trên mặt đất vẫn c̣n chưa đủ cung ứng nhu cầu của loài người. Sự thiếu thốn chưa giải quyết được. V́ vậy sự tranh giành của loài người vẫn c̣n tiếp tục lâu dài.

Người Cộng Sản đề nghị dùng phương pháp khoa học tăng gia sản xuất để thỏa mản nhu cầu của con người. Nhưng khoa học không phải là vạn năng. Vậy chỉ c̣n cách để cho con người tranh đấu lẫn nhau để giải quyết nạn thiếu thốn. Đó là cách thi hành từ khi có loài người đến nay.

Hơn nữa, nhân loại càng ngày càng đông mà nhu cầu của con người càng lúc càng thêm nhiều. Khoa học dầu có tiến bộ nhưng cũng khó vượt qua hai trở ngại sau đây:

a - Mục cung càng tiến th́ mục cầu cũng tăng thêm một cách mạnh mẽ. Khoa học có giúp người tăng gia sản xuất nhưng cũng tạo cho con người nhiều nhu cầu mới.

b - Vấn đề nhu cầu chỉ tạm giải quyết ở những nước kỹ nghệ mở mang, nhưng tại những nước c̣n lạc hậu - nhứt là những nước đông dân như Aán Độ, Trung Hoa - rất khó sản xuất đủ nhu dụng cho mọi người.

Nếu địa cầu không thể cung cấp đầy đủ các nhu cầu cho toàn thể nhân loại th́ nó có thể thỏa mản được đầy đủ cho một số dân tộc trên thế giới. Dân tộc nào muốn được sinh tồn sung măn th́ phải tranh đấu với những dân tộc khác để giành lấy các nhu cầu. Lịch sử cổ kim phần lớn được xây dựng trên sự tranh đấu sinh tồn giữa các dân tộc.

Vậy xét trên b́nh diện thế giới, vấn đề cung cầu chênh lệch trong tương lai lại càng khó giải quyết hơn và nạn nhân măn vẫn c̣n là một mối nguy cho nhơn loại. V́ đó mà nhơn loại không sao hoàn toàn hợp tác với nhau để thực hiện được cảnh thế giới đại đồng.

2 - Về tâm lư:

a -Bản năng sinh tồn:

Bản năng sinh tồn là một khả năng khiến cho một sinh vật tự nhiên có ư muốn duy tŕ 
sự sống của ḿnh. Nó có thể hẹp hay rộng. Nếu nó hẹp th́ sinh vật chỉ muốn cho cá nhân ḿnh sống, nếu rộng th́ sinh vật c̣n muốn cho những kẻ gần ḿnh cũng được sống như ḿnh.

Kết quả của bản năng sinh tồn là sự vị kỷ, nhưng nếu được mở rộng, người ta có thể hy sinh để cho những kẻ thân ḿnh cùng được sống theo.

Như thế, con người đă vượt qua sự vị kỷ để đi đến ḷng vị tha.

Người chủ trương thế giới đại đồng bảo rằng nên bỏ ḷng vị kỷ đó đi, chỉ để lại ḷng vị tha mà thôi. Nhưng như chúng ta đă biết, trong sự vị tha vẫn có ḷng vị kỷ nên không thể giữ cái này mà bỏ cái kia được. Một người chịu làm việc vất vă để nuôi gia đ́nh thân yêu của ḿnh chớ không bao giờ chịu lao khổ để nuôi gia đ́nh hàng xóm.

Hơn nữa, muốn có ḷng vị tha phải phát tiết ḷng vị kỷ ra ngoài. Một kẻ cướp muốn có nhiều tiền cung cấp cho những người thân yêu, tất phải đoạt tài sản của người khác. Muốn có ḷng vị tha với những người thân, anh ta phải phát tiết ḷng vị kỷ của anh ta nơi những người bị anh ta cướp của.

Như vậy, kết quả của bản năng sinh tồn là tánh ích kỷ. Nếu đem so sánh một người cổ sơ với một người văn minh, ta thấy người cổ sơ ít vị kỷ hơn người văn minh. Đủ ăn rồi, họ không lo thâu góp để dành nên dễ dàng giúp đỡ người khác. Người văn minh th́ không thế. Đối với họ không biết bao nhiêu mới gọi là đủ. Càng có nhiều họ càng muốn tích trữ thêm nữa. V́ đó, người càng văn minh ḷng vị kỷ lại càng mạnh mẽ thêm.

b - Ư thức đồng loại:

Ư thức đồng loại là một bản năng khiến cho một sinh vật biết một sinh vật khác cùng loại với ḿnh. V́ đó từ cầm đến thú chúng luôn luôn đi theo đàn không lẫn lộn với các giống loại khác.

Ư thức đồng loại làm cho con người có xu hướng tự nhiên là thương những người mà họ thấy giống ḿnh hơn là những kẻ mà họ cho là xa lạ, khác họ. V́ đó, nảy sinh ra tinh thần gia tộc, bè phái, tinh thần hương đảng, tổ quốc, làm cho họ luôn thương cái mà họ cho là gần họ và ghét cái mà họ thấy là xa lạ.

Những người theo lư tưởng thế giới đại đồng chủ trương hủy diệt ḷng ghét đi để có thể thương yêu hết mọi người. Nhưng điều này không thể thực hiện được v́ ḷng ghét là lư do tồn tại của ḷng thương. Nói rơ hơn, phải có ḷng ghét đem ra so sánh ta mới thấy có ḷng thương.

Khi đội túc cầu tỉnh nhà đấu với đội Sai G̣n, ta muốn nó thắng đội Sài G̣n, v́ ta thấy nó gần ta hơn. Nhưng khi đội túc cầu Sài G̣n đấu với đội cầu Trung Hoa, ta lại muốn đội Sài G̣n thắng, v́ ta thấy đội Sài G̣n là đội banh của nước nhà, gần ta hơn là đội khách. Bao nhiêu ḷng thương ta trút vào đội Sài G̣n và bao nhiêu ḷng ghét ta trút vào đội khách. Xem thế, thương và ghét không phải là tuyệt đối, mà nó là kết quả của một sự so sánh. V́ thế, ta không thể dẹp bỏ một cái đi được. Giả sử ta bỏ ḷng ghét đi th́ ḷng thương cũng theo đó mà mất. Thương ghét cùng mất th́ nguyên nhân sanh ra nó là ư thức đồng loại cũng mất theo. Nhưng ư thức đồng loại là một bản năng không sao bỏ đi được. Vậy thương và ghét cũng không thể hủy diệt được. Thương và ghét không thể bỏ đi được v́ muốn thương phải có chổ phát tiết ḷng ghét. Như thí dụ trên, ta phải phát tiết ḷng ghét ra nơi đội cầu Trung Hoa rồi mới có thể thương đội cầu Sài G̣n được. Nếu không phát tiết ḷng ghét ra ngoài được th́ nó trở lại phá hoại bên trong. Người trong một gia đ́nh nghèo bị khinh rẽ, hiếp đáp, thường rất thương nhau nhờ phát tiết được ḷng ghét ra ngoài. Trái lại, người trong gia đ́nh giàu nhứt hô bá ứng, v́ không có cơ hội phát tiết ḷng ghét ra ngoài nên thường xung đột lẫn nhau.

Ư thức đồng loại là một bản năng chia rẽ loài người hết sức sâu đậm. V́ đó, từ xưa nhiều người đă cố gắng làm cho nó dịu bớt lại. Thần thoại trăm con cùng một tổ của người Việt Nam cũng như thần thoại của người Nhật cho rằng họ cùng là con cháu của Thái Dương Thần Nữ chứng tỏ sự mănh liệt của ư thức đồng loại, nên người ta phải lợi dụng nó để tránh bớt sự xâu xé giữa người đồng bang.

Ngày xưa v́ bị óc tôn quân và các tôn giáo chi phối, con người chưa có ư niệm rơ rệt về dân tộc. Bỡi đó, người ta có thể dễ dàng chấp nhận người nước khác sang làm quan nước ḿnh như Pháp Hoàng Louis 14 dùng Mazarin là người Ư làm Tể Tướng, Tần Thủy Hoàng dùng Lư Oâng Trọng là người Việt Nam làm Tư Lệ Hiệu Uùy mà dân chúng họ không bất b́nh phản đối chi hết. Ngày nay, ư niệm dân tộc hết sức mạnh mẽ, nên những việc như thế chắc chắn không c̣n được sự chấp nhận nữa.

Ta đă nhận thấy ư thức đồng loại đưađến sự thương ghét không đều. Nếu loài người hợp quần trong phạm vi thế giới, ḷng ghét không có chỗ phát tiết sẽ gây ra sự xung đột bên trong xă hội. C̣n hợp quần trong phạm vi dân tộc, người ta có thể phát tiết ḷng ghét đối với những dân tộc uy hiếp sự sinh tồn của ḿnh nên gây được sự hợp tác chặt chẽ bên trong quốc gia. Lịch sử đă nhiều lần chứng minh điều nầy.

- Trước năm 1937, Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Trung Cộng đánh nhau gây ra cuộc nội chiến đẩm máu kéo dài trong nhiều năm. Nhưng khi quân đội Nhật tấn công vào lục địa, đôi bên tạm gác hận thù, cùng hợp tác nhau để kháng Nhật. Sau khi Nhật bại trận, họ lại xung đột nhau trở lại cho đến khi trận chiến kết thúc vào năm 1959 đem lại sự thắng lợi về cho Trung Cộng.

Năm 1914, khi quân Đức tiến quân gần đến Paris, các chánh đảng Pháp chấm dứt mọi sự tranh chấp, hợp nhau lại thành Mặt Trận Thống Nhất Thiêng Liêng để đối phó.

- Tại Việt Nam, khi quân Nguyên Mông kéo sang xâm lược, Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải đă xóa bỏ mọi sự hiềm khích riêng tư để cùng nhau chung lo việc nước. Nhờ sự hợp tác quí báu, quân dân Đại Việt đă đánh đuổi được quân Nguyên.

Những thí dụ trên đây cho ta thâư rằng hợp quần trong phạm vi dân tộc, ta có thể giải quyết dễ dàng vấn đề chia rẽ v́ ư thức đồng loại.

c - Tánh thích vinh quang:

Tánh thích vinh quang là bản năng của mọi sinh vật. Nó là nguồn gốc của sự phân biệt ngôi thứ. Trong loài thú, sự phân biệt nầy diễn ra một cách rơ rệt. Một đàn chim bay, một đàn thú đi t́m mồi, bao giờ cũng có con đầu đàn.

Đối với loài người, sự tranh chấp để giành ngôi thứ lại càng mănh liệt hơn. Câu “Thà làm người lớn nhứt trong làng c̣n hơn làm người thứ hai tại thành La Mă” của Cesar cũng như câu “Thà làm đầu gà hơn làm đuôi trâu” của người Việt Nam đủ tóm tắt tinh thần “thích vinh quang” của loài người.

Chính v́ để thỏa măn tinh thần nầy, người ta đă tranh nhau ác liệt, không ai chịu nhường ai. Nguyên nhân nầy trong tương lai, nếu không tăng trưởng th́ cũng không giảm bớt chút nào. Ta có thể bảo rằng những nguyên nhân chia rẽ loài người càng
ngày càng mạnh mẽ hơn. Tuy nhiên, ta cũng c̣n có thể giải quyết nó bằng cách khêu gợi ư thức đồng loại như đă dùng để giải quyết các nguyên nhân khác.

Qua các sự kiện vừa nêu, ta thấy rằng chủ trương thế giới đại đồng của Cộng Sản không thể nào thực hiện được. Để tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc, chúng ta không thể dựa vào ảo vọng thế giới đại đồng để hoạt động mà phải có một thái độ hợp với thực tế hơn.

Tóm lại, hợp quần trong phạm vi dân tộc , người ta có thể phát tiết ḷng ghét và ḷng vị kỷ của ḿnh ra các dân tộc khác nên dễ dàng xóa bỏ các mối dị đồng để đoàn kết nhau lại và hy sinh cho Tổ quốc.

Hơn nữa, quyền lợi vật chất và tinh thần của dân tộc thường phù hợp với sự sinh tồn của cá nhơn nên ai cũng muốn nh́n nhận dân tộc là đoàn thể hợp quần có lợi nhứt cho con người. V́ đó, ư niệm dân tộc đă ăn sâu vào đầu óc mọi người - kể cả những người theo chủ trương quốc tế - , và dân tộc là yếu tố quan trọng vào bậc nhứt mà không nhà chính trị khôn khéo nào dám bỏ qua.

d- Tư Tưởng bất đồng:

Con người là một giống khôn ngoan nên đứng trước bất luận t́nh thế nào cũng đều nghĩ ra được phương cách đối phó. Đó là xu hướng biến cải của con người mà người nào cũng cho xu hướng biến cải của ḿnh là hay nhứt. V́ vậy mà sinh ra sự xung đột nhau v́ ư kiến bất đồng.

Giữa những người khác giống ṇi, khác ngôn ngữ, tập quán hay tín ngưỡng, sự bất đồng tư tưởng là lẽ dĩ nhiên. Nhưng giữa người cùng giống ṇi, cùng ngôn ngữ, cùng tập quán hay tín ngưỡng mà cũng có sự bất đồng về tư tưởng nữa.

Về tôn giáo, ta thấy Phật Giáo chia ra thành hai phái Tiểu Thừa và Đại Thừa mà mỗi phái lại chia ra thành nhiều tông phái khác nhau; C̣n Thiên Chúa Giáo th́ lại chia làm Công giáo và nhiều phái Tin Lành, chưa kể những nhánh khác như phái Chánh Thống ở Nga, phái Hợp Nhứt ở Hy Lạp . v. v . . .

Về triết học th́ đồ đệ của Hegel đă chia ra thành hai phe tả, hữu. Những môn đồ của Marx cũng chia phe Đệ Tam, Đệ Tứ, Titô, Mao Trạch Đông, v .v . . . xung đột nhau mănh liệt.

Sự bất đồng tư tưởng đă đưa con người đến nhiều cuộc tranh chấp đẩm máu. Những cuộc chiến tranh giữa các tôn giáo, những cuộc thanh toán quyết liệt giữa các phe phái chính trị đă cho thấy rằng sự bất đồng tư tưởng là một trở ngại lớn lao cho sự thực hiện thế giới đại đồng.

Thời xưa, sự giaó dục chưa được phổ thông, đa số dân chúng c̣n dốt nát, v́ vậy nên có một vài người tài giỏi xuất hiện là dân chúng răm rấp tuân theo; Ngày nay, nhờ giaó dục phổ thông, sự chênh lệch về tài trí giữa mọi người không c̣n quá nhiều như trước. Do vậy, những người có chút học thức th́ ḷng háo thắng càng mạnh, không chịu thua ai, không chịu nghe ai, cho nên sự bất đồng tư tưởng càng mănh liệt hơn trước.

Hợp quần trong phạm vi dân tộc, người ta có thể dựa vào ư thức đồng loại mà làm dịu bớt sự xung đột v́ tư tưởng bất đồng.

Trên thế giới ai cũng sợ nội loạn hơn chiến tranh, v́ nội loạn không những làm tṛ cười cho ngoại quốc mà c̣n là cơ hội tốt giúp cho ngoại quốc xen vào trục lợi.

Những cuộc nội loạn hiện nay trên thế giới sở dĩ xảy ra là v́ có một hạng người theo chủ trương thế giới đại đồng, tuân theo mạng lịnh nước ngoài và phủ nhận ư niệm dân 
tộc. Nhưng bọn người nầy chỉ là thiểu số. Họ gây được rối loạn là nhờ biết áp dụng lối tuyên truyền ngụy trá, gạt gẫm một số dân chúng nghèo khổ v́ chiến tranh hay bị nạn thực dân bốc lột.

Nếu ta biết dùng phương pháp thích hợp làm cho mọi người đều hướng vào mục đích chung là phụng sự tổ quốc, mưu cầu sự sinh tồn cho dân tộc th́ sự xung đột nhau v́ tư tưởng bất đồng sẽ dịu bớt đi và nạn xâu xé nhau có thể tránh được.

e - Thất t́nh:

Thất t́nh gồm có: Hỷ (vui), Nộ (giận), Ái (thương), Ố (ghét), Ai (buồn),, Cụ (sợ), Dục (muốn). Nó cũng là nguyên nhân làm cho loài người chia rẽ. Người ta không làm chủ được thất t́nh của ḿnh, nghĩa là sự buồn vui thương ghét tự nhiên biểu lộ mà mỗi người lại biểu lộ t́nh cảm ḿnh một cách khác nhau. Cùng đứng trước một việc mà kẻ vui người buồn, kẻ thương người ghét. V́ thế, luôn luôn có sự xung đột lẫn nhau.

Tóm lại, v́ nhiều nguyên nhân chia rẽ loài người, nên từ trước đến giờ loài người chưa bao giờ sống ḥa hảo với nhau được.

C - DÂN TỘC: H́nh thức hợp quần rộng răi nhứt mà loài người thực hiện được.

Chúng ta thấy rơ rằng, muốn sinh tồn được con người phải hợp quần nhau lại. Nhưng v́ nhiều nguyên nhân chia rẽ, loài người không thể hợp quần trong phạm vi thế giới để thực hiện sự sinh tồn chung cho nhân loại được. Mặt khác, chúng ta cũng biết rằng hợp quần trong một phạm vi quá nhỏ hẹp như gia đ́nh, thị tộc hay bộ lạc, con người không đủ sức đối phó với mọi trở lực để mưu cầu sự sinh tồn sung măn được. Gương các bộ lạc da đỏ ở Mỹ Châu cũng như một số đông bộ lạc da đen ở Phi Châu đă chứng minh cho chúng ta thấy rơ điều nầy.

Vậy, con người chỉ c̣n một cách là hợp quần trong phạm vi dân tộc để mưu sự sinh tồn chung mà thôi. Dân tộc là khối đông người cùng chung huyết thống, chung ngôn ngữ, có một nếp sinh hoạt giống nhau và những phong tục tập quán như nhau. Ngoài ra, c̣n có một yếu tố tinh thần là lịch sử làm cho sự đoàn kết giữa mọi người trong dân tộc càng thêm bền chặt. V́ đó, từ xưa đến nay, những quốc gia đặt nền tảng dân tộc là những quốc gia bền vững nhất.

Tóm lại: Sự hợp quần trong phạm vi dân tộc có thể giải quyết được các nguyên nhân chia rẽ loài người, các nguyên nhân từ xưa đến nay đă đem lại cho nhân loại biết bao điều khổ nạn.

Chúng ta thấy rằng mục đích tối yếu của mọi người ở tất cả mọi thời đại là sinh tồn. Con người hoạt động chỉ cốt để sinh tồn.

Muốn sinh tồn, con người phải tranh đấu. Muốn nắm được phần thắng trong cuộc tranh đấu con người phải có sức mạnh và có xu hướng biến cải cường kiện.

Nhưng đứng riêng một ḿnh, con người không đủ sức nên phải hợp quần nhau lại. Sự hợp quần nầy không thể ở trong phạm vi nhỏ hẹp như gia đ́nh hay bộ lạc, nhưng cũng không thể mở rộng đến phạm vi nhân loại được, v́ có nhiều nguyên nhân luôn luôn chia rẽ loài người. Do đó, con người chỉ có thể hợp quần chặt chẽ nhau trong phạm vi dân tộc. Trong phạm vi nầy, con người có thể phát tiết ra ngoài những nguyên nhân chia rẽ, nhờ đó tổ chức dân tộc vững vàng.

Sự hợp quần trong phạm vi dân tộc là sự hợp quần to lớn nhứt mà loài người có thể thực hiện được.

Nhưng nếu sự tổ chức dân tộc không được đàng hoàng làm cho sự sinh tồn cá nhân của con người bị uy hiếp, con người có thể chống chọi lại dân tộc để mưu cầu sự sinh tồn cá nhân cũng là mục đích chính yếu của loài người. Bởi đó, muốn duy tŕ sự sinh tồn của dân tộc, chúng ta phải tổ chức như thế nào cho mọi người đều được sinh tồn đầy đủ và đều có thể phát triển được năng lực sinh tồn của ḿnh.

Kêu gọi tất cả mọi người trong dân tộc kết hợp nhau để tranh đấu cho sự sinh tồn chung, và tổ chức quốc gia như thế nào để cho mọi người được hưởng đồng đều những kết quả của sự tranh đấu chung, làm thế nào cho mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là bảo đảm chắc chắn nhứt cho sự sinh tồn của cá nhân ḿnh, đó làtinh lư của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn.

D - Mục Đích Của Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn:

1 - Gây một nền đoàn kết chặt chẽ trong dân tộc: 
bằng cách bài trừ triệt để mọi h́nh thức chia rẽ như chia rẽ địa phương, chia rẽ giai cấp, chia rẽ đảng phái, chia rẽ tôn giáo . . .

2 - Bảo đảm sự sinh tồn cho mọi người trong dân tộc:
Chúng ta biết con người chỉ khép ḿnh trong dân tộc và thật tâm phụng sự dân tộc khi biết rằng dân tộc bảo đảm cho ḿnh được sinh tồn sung măn. V́ đó, quốc gia phải được tổ chức như thế nào cho sự bốc lột giữa đồng bào không c̣n nữa để mọi người đều được sinh tồn đầy đủ.

Muốn như vậy, mọi người phải được tự do mưu sinh, nhưng quốc gia phải hạn chế sự phát triển của tư bản, không cho nó gây được thế lực cưỡng ép dân chúng như nhiều nước Aâu Mỹ. Một mặt khác, quốc gia cũng phải hướng dẫn cá nhân, không để cho họ cấu xé nhau v́ quyền lợi riêng. Nói tóm lại, sự sinh tồn cá nhân phải đi đôi với sự sinh tồn dân tộc, chỉ có điều nầy mới gây được sự đoàn kết dân tộc chặt chẽ giữa mọi người trong dân tộc mà thôi.

3 - Nâng cao tŕnh độ dân tộc:
Ngoài sự đoàn kết chặt chẽ dân tộc c̣n cần có nhiều năng lực để tranh đấu mới mong bảo vệ được sự sinh tồn của ḿnh. V́ đó, tŕnh độ của mọi người trong dân tộc phải được nâng lên về cả ba mặt: thể chất, tinh thần và trí tuệ.

Sự nâng cao tŕnh độ này rất hợp với sự sinh tồn cá nhân của con người, v́ nó giúp cho mỗi người phát tiết đến tuyệt đích những năng lực của ḿnh, đồng thời, nó cũng thích hợp với sự sinh tồn chung v́ nó giúp cho dân tộc tranh đấu đắc lực với dân tộc khác.

4 - Tùy lúc thay đổi đường lối chính trị:
Muốn sinh tồn sung măn, dân tộc phải khéo léo trong cuộc bang giao, tức là phải biết áp dụng xu hướng biến cải để đường lối chính trị của ḿnh thích hợp với t́nh thế mỗi lúc.

IV - Phần Kết Luận:

Theo quan điểm Dân Tộc Sinh Tồn:
- Chế độ độc tài tuy làm cho dân tộc được hùng cường nhanh chóng, nhưng nó uy hiếp cá nhân thái quá khiến cá nhân không phát triển được hết năng lực của ḿnh. Hơn nữa, những sự bất công do chế độ gây ra làm cho dân chúng phẩn uất. V́ đó, quốc gia khó tránh được nội loạn. Ngoài ra, những sự thanh trừng đẩm máu mà nhà độc tài nào cũng thi hành để giữ vững ngôi vị cũng vô cùng có hại cho dân tộc.

- Chế độ tự do tuy bảo vệ được sự tự do và quyền lợi cá nhân, nhưng nó thường đưa đến chỗ phóng túng và vô kỷ luật nên đất nước rối loạn, dân tộc suy yếu đi. Sự hoạt động đă chậm chạp mà các bí mật quốc gia cũng không giữ kín được nên các dân tộc theo chế độ tự do khó bảo vệ được quyền lợi ḿnh. Mà khi quyền lợi dân tộc đă bị mất th́ quyền lợi cá nhân cũng khó bảo toàn được.

Như vậy, chế độ độc tài có lợi cho sự sinh tồn dân tộc, nhưng lại có hại cho sự sinh tồn cá nhân. Ngược lại, chế độ tự do có lợi cho sự sinh tồn cá nhân nhưng lại có hại cho sự sinh tồn dân tộc.

Không có chế độ nào hoàn hảo cả. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng chế độ độc tài dầu hoàn hảo nhứt, cũng làm khổ cho cá nhân, trong khi một chế độ tự do hoàn hảo có thể làm cho cá nhân lẫn dân tộc đều sinh tồn được. Ngoài ra, trong bản chất, chế độ tự do dễ sửa chữa hơn chế độ độc tài. Muốn thay đổi chế độ độc tài phải có những cuộc tranh đấu đẩm máu, trong khi chúng ta có thể cải lương chế độ tự do một cách ôn ḥa.

Tóm lại, Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn là một chủ nghĩa quốc gia dựa vào những lập luận có tánh cách khoa học. Nó có ích dụng những chỗ hay của các chủ nghĩa chánh trị đă ra đời trước nó.

Với chủ trương dung ḥa sự sinh tồn cá nhân và sự sinh tồn dân tộc, dung ḥa quyền lợi của quốc gia, nhứt là chủ trương biến cải, nó đưa đến một chế độ mềm dẽo, một chánh sách uyển chuyển thay đổi tùy t́nh thế, có thể nghiêng về kỷ luật quốc gia lúc dân tộc gặp khó khăn, mà cũng có thể nghiêng về sự tự do cá nhân lúc dân tộc trở về với đời sống b́nh thường.

Đó là đặc điểm của Chủ Nghĩa DÂN TỘC SINH TỒN.

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG        
Tổng Bộ Huấn Luyện

Đọc tiếp phần Phụ Lục