PHỤ LỤC
I - Phần mở đầu:
Con người vốn là một sinh vật có trí khôn, có óc suy luận. Trí khôn của con người đă đưa con người tới chỗ t́m hiểu những lư lẽ, những nguyên nhân của sự vật. Lúc ban đầu, những tri thức của con người về thế giới bên ngoài hăy c̣n thô sơ, chỉ sau một thời gian lâu dài khảo sát về sự vật chung quanh ḿnh và về ư thức của ḿnh, con người mới tiến đến những tri thức thực nghiệm có tính cách khoa học.
Nói chung, lúc vừa thoát khỏi thời kỳ thú tánh, con người chưa có những tri thức rơ rệt và chính xác về các hiện tượng thiên nhiên. V́ đó, con người giải thích những hiện tượng ấy bằng sự hiện diện của những thần minh là những nhân vật vô h́nh nhưng có nhiều quyền năng đối với vũ trụ và đời sống con người, và cho rằng con người được sanh ra là để phụng sự thần minh.
Ḷng tin tưởng nơi thần quyền là điểm chung của tất cả mọi dân tộc trong thời kỳ sơ thủy. Nó là nền tảng của mọi tổ chức xă hội thời cổ. Bởi đó, tôn giáo có thể xem như là một loại lư thuyết chánh trị dựa vào thần quyền.
Về chi tiết, những lư thuyết thần quyền nầy khác nhau vô cùng, nhưng căn bản của nó chỉ là một: đó là ḷng tin tưởng rằng thế giới do một quyền lực vô h́nh nhưng vạn năng điều khiển. Quyền lực ấy có thể là một nhân vật có h́nh thể như người hay là một nguyên lư trừu tượng. Nhưng trong trường hợp nào, con người cũng phải thờ phượng nó và tuân theo nó th́ mới được an toàn. V́ thế, một trong những nhiệm vụ tối yếu của nhà cầm quyền là thờ cúng Trời (hay Thượng Đế hoặc Thần Minh). Đối với quần chúng, nhà cầm quyền tối cao được xem là đại diện hay con của Trời (Thiên Tử), của Thượng Đế hay của Thần Minh.
Về phương diện tổ chức, các xă hội cổ thời đă trải qua nhiều chánh thể khác nhau, nhưng xu hướng chung là sự thắng thế cuối cùng của chế độ quân chủ chuyên chế. Cho đến thế kỷ 17, hầu hết các nước trên thế giới đều theo chế độ nầy. Nhà vua được xem là người lănh mạng Trời để cai trị muôn dân, có quyền tuyệt đối với dân chúng. Dân chúng có bổn phận tuyệt đối tuân lệnh nhà cầm quyền.
Nhưng từ thế kỷ 17 trở đi, tư tưởng thần quyền và chánh thể chuyên chế lần lần bị chỉ trích. Trên thế giới v́ thế phát hiện nhiều lư thuyết chánh trị khác nhau làm đảo lộn cả đời sống nhân loại.
Sau đây chúng ta sẽ lần lượt nguyên cứu nguyên do phát sinh ra nó và tŕnh bày cùng phê b́nh một cách cặn kẻ theo quan điểm sinh tồn:
II - Ờ A^u Châu:
A - Lư Thuyết Dân Chủ:
Bắt đầu phong trào chống lại nền quân chủ chuyên chế là Lư Thuyết Dân Chủ phát khởi ở các nước Tây Aâu (Anh, Pháp) vào thế kỷ 17. Vào lúc đó, tổ chức xă hội tại các nước ấy c̣n quá khắc nghiệt và thiếu hẳn công b́nh, không như phần đông các nước ở Á Đông.
Tại Á Đông chỉ có vua là thế tập, c̣n các quan lớn nhỏ trong nước hầu hết đều là người từ dân chúng xuất thân. Nhờ học rộng, tài cao, họ thi đậu hoặc lập được công trạng với quốc gia nên được bổ làm quan và lần lần chiếm được địa vị cao sang trong nước. Mặt khác, tuy nhà vua có uy quyền tuyệt đối, nhưng chỉ chăm chú vào mặt chánh trị, ít khi can thiệp vào đời tư của dân. V́ đó, nếu không âm mưu khuynh đảo triều đ́nh, người dân được hưởng một sự tự do khá rộng: tự do nghề nghiệp, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng v . v . . . . V́ thế, dân chúng không oán ghét chế độn quân chủ chuyên chế. Chỉ khi gặp nhà vua hôn bạo, gây khốn khổ cho dân, họ mới nổi lên đánh đổ rồi tôn người khác lên thay.
Tại các nước Aâu Châu, t́nh thế khác hẳn. Ngoài nhà vua ra, trong nước c̣n có hàng quí tộc thế tập chia nhau giữ hết các chức vụ chỉ huy và hạng tăng lữ hưởng rất nhiều đặc ân của triều đ́nh. Người thường dân, dù có tài cao học rộng, cũng không được quyền tham gia chánh sự. Đă thế, triều đ́nh lại can thiệp quá nhiều vào đời sống của người dân. Nông dân bị lệ thuộc hoàn toàn vào các nhà qúi tộc địa chủ nên không được đổi chỗ ở, không được đổi nghề, v . v . . . Trọn đời, họ bị cột chặt vào mảnh đất của vị địa chủ của họ. Thợ thuyền ở đô thị th́ tương đối được tự do hơn, nhưng lại bị lệ thuộc quá nhiều vào các luật lệ khắc nghiệt của các phường công nghệ, nên đời sống của họ cũng không được sáng sủa ǵ hơn. Ngoài ra, cả nông dân lẫn thợ thuyền đều bị bắt buộc phải theo đạo của nhà vua. Người nào theo đạo khác th́ bị khủng bố, giết hại, khó ḷng sống yên ổn được. Triều đ́nh lại ăn tiêu xa xỉ, thuế khóa càng ngày càng nặng, mà hạng qúi tộc, tăng lữ lại được miễn thuế, nên dân chúng phải lănh trọn gánh nặng.
Đời sống của dân chúng lúc bấy giờ thật vô cùng khổ sở. Nhận thấy sự cùng cực của họ là do sự bất công của chế độ xă hội đương thời nên một số học giả như John Locke ở Anh, Jean Jacques Rousseau ở Pháp nêu ra thuyết dân chủ, lấy tự do, b́nh đẳng làm nền tảng.
Lư thuyết dân chủ không chủ trương phụng sự Thượng Đế như các lư thuyết Thần Quyền mà nhắm mục đích phụng sự con người, lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động chánh trị.
Theo lư thuyết dân chủ mọi người sinh ra tánh vốn tốt (tương tự như câu: “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện” của Á Đông) và đều được tự do và b́nh đẳng. Chỉ v́ chế độ xă hội hư bại nên họ trở nên xấu, mất hết tự do và phải chịu nhiều bất công thành ra khổ sở khốn cùng.
Muốn cho con người được hạnh phúc, phải cải tổ cho xă hội tốt trở lại, đồng thời bảo đảm sự tự do của mọi người và đăi ngộ mọi người b́nh đẳng với nhau.
Dân chúng các nước Tây Aâu đang khao khát tự do và b́nh đẳng nên nhiệt liệt hoan nghênh lư thuyết dân chủ. Họ lần lượt đánh đổ những nhà vua chuyên chế và thiết lập chế độ dân chủ cho mọi người tham dự chánh sự bằng lối bầu cử người thay ḿnh làm ra luật pháp, ban bố mọi quyền tự do căn bản, đồng thời công nhận mọi người đều b́nh đẳng như nhau trước luật pháp.
V́ đó, ngaỳ nay chế độ dân chủ tại các nước Tây phương được gọi là Dân Chủ Tư Bản hay Dân Chủ Tự Do.
B - Thuyết Siêu Nhân của Nietzche (Đức):
Dựa vào thuyết siêu nhơn, Nietzche cho rằng trong nhân loại có một số ít siêu nhơn thật tài ba có thể làm những việc xuất chúng. Nhiệm vụ của siêu nhơn là hướng dẫn nhân loại trên con đường văn minh. Muốn cho siêu nhơn thành công mỹ măn thường nhơn phải phụng sự và tuân lệnh siêu nhơn.
Sau nầy, Hitler khai triển từ siêu nhân trở thành siêu tộc qua tác phẩm Mein Kamf. Ông cho rằng trên thế giới có nhiều chủng tộc cách biệt nhau xa về tài trí, về năng lực, có những chủng tộc cực kỳ thông minh, có những chủng tộc cực kỳ ươn hèn. Những chủng tộc thông minh giàu năng lực là những Siêu Tộc. Các siêu tộc có nhiệm vụ thống nhứt thế giới và đưa nhân loại trên đường tiến bộ. Các chủng tộc khác có nhiệm vụ phụng sự siêu tộc và thi hành các mạng lệnh của siêu tộc.
Theo Hitler, trong tất cả các chủng tộc trên thế giới chỉ có chủng tộc Aryen phát sinh từ Hy Mă Lạp Sơn là siêu tộc duy nhứt đáng làm chúa tể thiên hạ. Nhưng muốn thi hành được sứ mạng thiêng liêng nầy, người Aryen cần phải giữ cho gịng máu ḿnh được thuần túy, v́ nếu gịng máu ḿnh bị pha trộn, họ sẽ trở thành ngu độn đi v́ sự trừng phạt của Tạo Hóa như trường hợp con la là con của con ngựa và con lừa, là một con thú vừa ngu đần vừa không sanh đẻ được. V́ sự lầm lạc từ ngày xưa, dân Aryen đă bị lai giống rất nhiều. Riêng có người Đức là dân tộc duy nhứt có đủ năng lực và tài ba lănh đạo thế giới. Nhưng muốn làm tṛn sứ mạng ḿnh, người Đức phải giữ cho gịng máu ḿnh không pha trộn. Mà muốn được vậy, họ phải bài trừ Do Thái là một giống dân ươn hèn, chỉ biết sống bám và an hưởng vật chất. Sau khi nắm được chánh quyền, Hitler đặt tên đảng chánh trị mà ông ta làm lănh tụ là đảng quốc gia xă hội, gọi tắt là Quốc Xă, đă phạm lỗi lầm căn bản là không nhằm mục đích phụng sự con người.
C - Thuyết Phát-Xít của Mussolini:(Ư)
Mussolini cho rằng trên đời chỉ có quốc gia là thực thể đáng tôn quí nhứt. Quốc gia là tối thượng, không có ai đứng ngoài quốc gia, cũng không có ǵ trên quốc gia. Mọi hoạt động đều nhằm phục vụ cho quốc gia. Cá nhân phải hoàn toàn phục tùng quốc gia, khép ḿnh vào khuôn khổ quốc gia và hy sinh cho quốc gia.
Như chủ nghĩa Quốc Xă ở Đức, Chủ nghĩa Phát Xít ở Ư cũng không nhắm vào phục vụ con người, đă có hành động cực kỳ tàn bạo khiến mọi người trên thế giới đều công phẩn.
Đây là một chủ nghĩa quốc gia cực đoan, quá khích mà Mussolini muốn tập trung quyền lực vào tay ḿnh theo chủ trương của ông ta khi lập ra đảng facio mà người Pháp dịch là fascisme. Mặc dầu facio là tiếng Ư nhưng không phổ thông bằng tiếng fascisme của Pháp nên báo chí thời đó buộc phải phiên âm danh từ fascisme thành Phát Xít mà cả thế giới đều dùng cho măi tới bây giờ. Để thấy rơ hơn chủ trương của đảng Phát Xít, ta đọc danh từ facio (Ư) và danh từ faisceau (Pháp) có phát âm gần giống nhau mà faisceau tiếng Pháp có nghĩa là cái dá súng (tượng trưng cho sự tập trung quyền lực) cho nên người ta gọi đảng của Mussolini là độc tài Phát Xít.
D - Thuyết Xă Hội Duy Vật (Cộng Sản) của Karl Marx:( Tàu dịch là Mă Khắc Tư) một người Đức gốc Do Thái:
Thuyết nầy được h́nh thành do sự hợp tác giữa Kark Marx và Frederik Angels. Sau nầy Lenine khai triển thêm nên có tên là Marxisme-Leninisme được phiên âm ra tiếng Việt là thuyết Mác-Lênin. Thuyết nầy phản ứng lại thuyết Dân Chủ và chế độ Tự Do. Marx cho rằng trong vũ trụ chỉ có vật chất là thực tại, c̣n Trời (hay Thượng Đế) chỉ là sản phẩm của trí óc con người. Dựa vào biện chứng pháp duy vật, ông cho rằng lịch sử nhân loại là một cuộc tranh đấu không ngừng giữa các giai cấp, trong đó giai cấp thống trị nhờ làm chủ các phương tiện sản xuất nên có nhiều thế lực và thẳng tay bốc lột giai cấp bị trị.
Xă hội trong đó Marx đang sống là xă hội Dân Chủ Tư Sản. Xă hội tuy có tiến bộ hơn xă hội quân chủ chuyên chế, nhưng cũng phân thành hai giai cấp đối kháng nhau: Tư Bản và Vô Sản. Những nhà Tư Bản đă dùng tài sản gây thế lực trên chánh trường để bảo vệ quyền lợi của ḿnh, đồng thời bắt chẹt bọn vô sản, thợ thuyền, trả cho họ một đồng lương chết đói. Do đó, trong nước có một thiểu số tư bản tỷ phú và một đại đa số cùng đinh. Bọn vô sản nầy bị bốc lột thẳng tay nên sự tự do, b́nh đẳng mà chế độ dân chủ tư bản nh́n nhận cho họ đă trở thành hư ảo, không giúp ǵ cho họ được.
Để chấm dứt sự bốc lột của tư bản, Marx kêu gọi: “Vô sản toàn thế giới hăy đoàn kết lại”! Khẩu hiệu nầy được Marx đặt nơi trang đầu tác phẩm “Tư Bản Luận” của ông, mục đích của Marx là kêu gọi vô sản toàn thế giới đoàn kết nhau lại làm một khối tranh đấu cướp chánh quyền, tiêu diệt giai cấp tư bản, tập trung mọi tài sản làm của chung, thực hiện chế độ cộng sản không giai cấp. Nhơn loại sẽ sống thân ái với nhau trong cảnh hoan lạc của thế giới Đại Đồng.
Thợ thuyền các nuớc Aâu Châu đang khổ sở v́ sự bốc lột nặng nề của tư bản nên nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của Marx, lập đảng Cộng Sản Quốc Tế chống lại chế độ Dân Chủ Tư Sản. Đến năm 1917, đảng Cộng Sản Nga thành công trong việc cướp được chánh quyền, xây dựng chế độ Cộng Sản tại đây.
Trong chế độ nầy, đảng Cộng Sản giữ lấy độc quyền chánh trị lẫn kinh tế. Về chánh trị, họ thi hành chánh sách vô sản chuyên chính, bóp nghẹt mọi quyền tự do căn bản kể cả quyền tự do tín ngưỡng, v́ Cộng Sản chủ trương vô thần, công khai bài xích tôn giáo. Về kinh tế, họ tập trung tất cả tài sản trong nước làm của chung, không ai được quyền c̣n có tài sản riêng dùng trong sự sản xuất. V́ vậy, mọi người đều hoàn toàn lệ thuộc vào nhà cầm quyền. Nhà nước Cộng Sản có một uy quyền rất lớn, lớn hơn bất cứ chánh quyền của chế độ nào khác, thành ra dân chúng tại các nước Cộng Sản bị bó buộc cùng cực mà không có cách ǵ cưởng lại được.
Lư thuyết xă hội duy vật hay chủ nghĩa Cộng Sản cũng biết lấy con người làm trung tâm điểm cho mọi hoạt động xă hội như lư thuyết Dân Chủ. Về mặt lư luận, nó bổ túc cho lư thuyết Dân Chủ ở chỗ đem sự b́nh đẳng kinh tế thêm vào sự b́nh đẳng chánh trị của lư thuyết dân chủ. Tuy vậy, lư thuyết xă hội duy vật vẫn c̣n chứa nhiều nhược điểm mà ta có thể tóm tắt sâu đây:
1 - Chủ trương Vô Thần:
Họ quả quyết là không có Trời (hay Thượng Đế) nhưng họ không trả lời được bằng khoa học những câu hỏi của phái duy tâm nêu ra: “Tại sao những tác động ngẫu nhiên vật chất lại có thể đưa đến những tiến hóa lạ lùng trong vũ trụ?”
2 - Chủ nghĩa xă hội duy vật đă lỗi thời:
Đáng lẽ phải xem Chủ nghĩa xă hội duy vật của Marx là một hệ thống tư tưởng chỉ đúng vào thế kỷ 19, nhưng sau đó đă lỗi thời. Chỉ c̣n những môn đồ của ông ta đến nay vẫn cho nó là một chơn lư tuyệt đối có giá trị muôn đời.
3 - Đấu tranh giai cấp:
Lịch sử loài người không phải chỉ gồm có giai cấp tranh đấu mà c̣n có nhiều h́nh thức tranh đấu khác như dân tộc tranh đấu, tôn giáo tranh đấu, tư tưởng tranh đấu . v.v . . . Giai cấp tranh đấu chỉ là một khía cạnh của sự sinh tồn tranh đấu giữa loài người mà thôi.
4 - Chánh trị là yếu tố quyết định:
Trong xă hội có nhiều yếu tố khác nhau. Kinh tế tuy là một yếu tố quan trọng, nhưng chưa phải là quyết định. Chánh trị mới là yếu tố quyết định v́ tổ chức của xă hội tuỳ thuộc vào chánh trị hơn là vào kinh tế. Chính sự sản xuất kinh tế cũng phải noi theo một chánh sách do cơ quan chánh trị đề ra. Chính những người Cộng Sản chủ trương xem kinh tế quan trọng hơn chánh trị cũng phải tổ chức sự tranh đấu cách mạng để cướp chánh quyền, tức là mặc nhiên xem chánh trị là vấn đề quan trọng nhứt.
5 - Thế giới đại đồng chỉ là một không tưởng:
V́ nhiều lư do vật chất và tâm lư, loài người không thể kết hợp thành một khối duy nhứt thuận ḥa nhau. Tạm kể một số nguyên nhân chính sau đây là những nguyên nhân chia rẽ loài người:
1 - Bản năng sinh tồn
2 - Ư thức đồng loại
3 - Tánh thích vinh quang
4 - Tư tưởng bất đồng
5 - Thất t́nh.
6 - Không thể thực hiện một xă hội không giai cấp:
Cuộc cách mạng nào cũng phải do một thiểu số lănh đạo và khi thành công rồi thiểu số đó trở thành giai cấp chỉ huy. Việc hủy diệt quyền tư hữu cũng không đưa đến việc hủy diệt giai cấp như Marx lầm tưởng; ngược lại, nó c̣n tăng thêm quyền của gia cấp chỉ huy đối với dân chúng. Sự quan sát chế độ cộng sản cho chúng ta thấy rằng uy quyền của đảng cộng sản đối với dân chúng c̣n lớn hơn gấp bội uy quyền của bất cứ giai cấp chỉ huy nào trên thế giới từ trước tới nay.
B - Ở Á Châu:
- Thuyết Tam Dân (hay Tam Dân Chủ Nghĩa) của Tôn Văn (Trung Hoa):
Trong khi Mussolini và Hitler dựa vào chủ trương quốc gia và siêu tộc nêu ra các chủ nghĩa Quốc Xă và Phát-Xít phản ứng lại các chủ nghĩa Dân Chủ và Xă Hội (Cộng Sản) th́ tại Trung Hoa, Tôn Văn cố dung ḥa các tư tưởng quốc gia, dân chủ và xă hội để xướng ra chủ nghĩa Tam Dân.
Chủ nghĩa nầy gồm có ba phần là Dân Tộc, Dân Quyền và Dân Sinh.
1 - Trong thuyết dân tộc:
Tôn Văn bảo rằng dân Trung Hoa đông đảo nhứt lại có một nền văn minh tối cổ, đáng lẽ phải là dân tộc hùng cường nhứt trên thế giới, nhưng trên thực tế, Trung Hoa đă bị các dân tộc khác uy hiếp và lăng nhục. Điều nầy sở dĩ xảy ra là v́ người Trung Hoa chỉ có tinh thần gia tộc và tinh thần thế giới mà thiếu hẳn tinh thần dân tộc. Nếu tinh thần nầy c̣n kéo dài Trung Hoa có thể diệt vong. Vậy người Trung Hoa phải đoàn kết nhau lại thành dân tộc tranh đấu với người ngoại quốc để bảo vệ quyền lợi ḿnh, và khi được hùng cường rồi sẽ giúp cho các dân tộc nhược tiểu khác trên thế giới.
2 - Trong thuyết dân quyền:
Tôn Văn chống hẳn các chế độ độc tài dùng cường quyền thống trị dân chúng, nhưng đồng thời ông cũng không tán thành chủ trương tự do cá nhân và b́nh đẳng của chủ nghiă Dân Chủ mà ông cho là không thích hợp với t́nh thế Trung Hoa. Oâng cho rằng nước Trung Hoa yếu v́ người Trung Hoa đă quá tự do và b́nh đẳng. Oâng hô hào người Trung Hoa nên hy sinh sự tự do và b́nh đẳng cá nhân của ḿnh để tranh đấu cho Tổ Quốc ḿnh được tự do và b́nh đẳng với những quốc gia hùng cường.
3 - Trong thuyết dân sinh:
Tôn Văn cố giải quyết các vấn đề xă hội. Oâng chống lại chế độ tư bản nhưng cũng không tán thành chủ trương giai cấp đấu tranh của chủ nghĩa Cộng Sản mặc dầu ông cho rằng Chủ nghiă Dân Sinh cũng giống như chủ nghĩa Cộng Sản. Oâng công nhận quyền tư hữu, song hạn chế bớt nó để nó không uy hiếp được quần chúng. Để cải cách dân sinh ông chủ trương tiết chế tư bản và b́nh quân địa quyền để mọi người đều có thể đủ cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi.
Chủ nghĩa Tam Dân có tánh cách chiết trung rơ rệt. Nó cố dung ḥa những chủ trương Quốc Gia (Dân Tộc), Dân Chủ (Dân Quyền), và Dân Sinh (Xă Hội), cố sửa chữa những chủ trương ấy cho thích hợp với t́nh thế Trung Hoa. Xét về mặt lư thuyết, chủ nghĩa Tam Dân đă thâu nạp được hết các lư tưởng tốt đẹp của các học thuyết đă ra đời từ thế kỷ thứ 17. Nhưng Tôn Văn đă đặt nặng vào chủ trương Dân Tộc và gián tiếp phủ nhận sự tự do cá nhân và nhứt là chủ nghĩa Tam Dân chứa nhiều lư luận mâu thuẩn nhau để sau nầy Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông đều cho rằng ḿnh là đồ đệ chính thống của Tôn Văn.