Bang Giao Việt - Hoa không ngưng sóng gió:
Bài học quân sự 1979:
Lư do, quyết định và hậu quả
Lâm Lễ Trinh
Để bao vây Trung quốc và làm suy yếu thế
lực của Hoa kỳ tại Á châu, tháng 6-1969 Leonid
Brezhnev đề nghị với các quốc gia, từ Trung
Đông đến Nhựt bổn, h́nh thành một tổ
chức an ninh chung bảo vệ ḥa b́nh và an lạc trong
khu vực. Riêng ở Đông dương, chủ đích
của Nga là hất ảnh huởng Mỹ và Tàu ra
khỏi bán đảo, kiểm soát vịnh Cam Ranh và các
hải cảng chiến lược, hổ trợ các đảng
và thể chế mạc xít, đồng thởi đặt
các nước Đông dương trong ṿng lệ thuộc Điện
Cẫm Linh bằng cách viện trợ quân sự và kinh
tế. Kế hoạch này thành công. Việt Nam là trường
hợp điển h́nh. Lê Duẫn đă trở nên con gà
ṇi của Mạc Tư Khoa.
Sau ngày "giải phóng Sàig̣n", Liên Sô tăng số
cố vấn tại Lào từ 100 lên 500, giúp 500 triệu
mỹ kim cho ngân sách VN tài khóa 1976 và 3 tỷ đô la cho
kế hoạch ngũ niên 1976- 1980 của Hànội. Bắc
Kinh, trong lúc đó, chỉ viện trợ tượng trưng
200 triệu, báo tin không cấp ngân khoảng mới cho 1977
và ngày 27. 9. 1976, tại diển đàn Liên Hiệp
quốc, Ngoại trưởng Kiều Quán Hoa một
mặt tố Nga trám khoảng trống ở Á châu và
mặt khác, cảnh cáo các thành viên Đông Á đừng bao
giờ "đón cọp vào ngă sau trong khi đuổi chó
sói ra cửa trước." Với ước mong
được thu nhập vào COMECON, Hội đồng Tài
trợ Kinh tế Hổ tương CS, Hànội theo sát con
đường Sô viết chống Tàu.
Khi Đảng Lao động VN nhóm Đại hội lần
thứ 4 tại Hànội, cuối 1976, đưới
sự giám sát của lư thuyết gia Mikhail A. Suslov, trưởng
phái đoàn Sô viết, th́ đa số ủy viên trong Chính
trị bộ đă nối đuôi Lê Duẫn thần
phục Mạc Tư Khoa: Vơ Nguyên Giáp, Trần Quốc Hoàn,
Văn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Linh, Tố Hữu,
Đổ Mười. Những phần tử như Lê Đức
Thọ, Nguyễn Duy Trinh, trước kia đứng
giữa, nếu không nói là thiên Bắc kinh, đều
chuyển hướng. Hoàng Văn Hoan bị khai trừ,
trốn sang Tàu và lănh án tữ h́nh khiếm diện.
Một số không ít như Phạm Văn Đồng,
Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, Vơ Chí Công và Chu Huy Mẫn
phải đổi phía để sống c̣n. Ngay cả Trường
Chinh cũng tỏ ra ôn ḥa hơn. Cuối 1977, sau khi tham
khảo ư kiến Trung quốc, Cam bốt đoạn giao
với VN. Đầu năm 1979, số cố vấn và chuyên
viên sô viết tại VN tăng từ 5000 lên 8000. Nhiều
diễn biến dồn dập xăy ra, khiến cho Bắc
kinh và Hànội không tránh được đụng độ
trực tiếp:
Lư do đụng độ Việt - Hoa
1 - Liên sô xử dụng Vịnh Cam Ranh và kư Hiệp
ước thân hữu với VN. Tháng 6-1978, không khí căng
thẳng khi Phó Thủ tướng Đặng Tiểu B́nh báo
tin hủy bỏ viện trợ cho VN, phản đối
việc trục xuất 110.000 người Việt gốc
Hoa và công bố Trung quốc đă giúp cho CSVN hơn 20
tỷ mỹ kim từ 1950 đến 1978. Hànội liền
tố ngược các lănh tụ Tàu là phản động.
Hai quốc gia CS Albania và Lào cũng hùa theo chỉ trích
Bắc Kinh. Đồng thời, Phạm Văn Đồng lên
tiếng xin b́nh thường hóa bang giao với Hoa kỳ. Mười
hôm sau, giới truyền thông rầm rộ tung tin Liên sô
được phép lập căn cứ quân sự tại
Cam Ranh và Đà nẳng. Phần thưởng của sự nhân
nhượng này là Mạc Tư Khoa bực đèn xanh cho Hànội
xúc tiến thực hiện và điều khiển Liên bang
Đông Dương.
Ngày 3-11,1978, Nga và Việt kư Hiệp ước Thân
hữu và Hợp tác, trong đó điều 6 đặc
biệt ghi rằng đôi bên sẽ áp dụng "các
biện pháp thich nghi và hữu hiệu để bảo
vệ ḥa b́nh và an ninh" nếu một trong hai nước
bị đe dọa hay tấn công. Trong dịp viếng Thái
Lan, Đặng Tiểu B́nh sỉ vả VN là "Cuba của
phương Đông", bắt tay với đế quốc
để xây mộng bá chủ và đe dọa Thái B́nh Dương
và Thế giới.
2 - VN chiếm đóng Cam bốt. Tại Hội
nghị Genève 1954, Chu Ân Lai thuyết phục Phạm Văn
Đồng cho rút quân khỏi Cam bốt và công bố tôn
trọng chủ quyền nước nàỵ Năm
1958, Bắc kinh và Nam Vang trao đổi sứ thần và kư
Hiệp ước hữu nghị và bất xâm phạm. Tháng
11. 1963, sau vụ đảo chính TT Ngô Đ́nh Diệm, Sihanouk
yêu cầu các cơ quan Mỹ rời xứ Chùa Tháp và
Trung quốc cảnh cáo Hoa kỳ không được xâm
nhập đồng minh nhược tiểu này. Tháng
3. 1970, tướng Lon Nol lật đổ Sihanouk. Một tháng
sau, các dân tộc Đông dương nhóm thượng đỉnh
tại Guangzhou gồm có Bắc Việt, Pathet Lào và
Khờ me Đỏ (lúc đó c̣n liên kết với Sihanouk).
Khờ Me Đỏ nhận viện trợ của Bắc kinh
và tuy không tin Hànội, vẫn liên tục cấp nơi
ẩn nấp cho các lực lượng VC mổi khi chúng
bị Quân đội VNCH đẩy lui.
V́ lư do lịch sử, địa dư và chiến
thuật, Cam bốt đă từng là chư hầu của
VN. Miên luôn luôn lo sợ bị nuốt trửng ngay trong
những năm cộng tác thân thiện với Hànội
(1970 - 1975). Sau tháng 4-1975, Khờ Me Đỏ hoàn toàn trông
cậy vào sự che chở của Trung quốc. Tháng 9-1975,
Chu Ân Lai sắp xếp cho Sihanouk trở về Nam Vang "để
đuổi Bắc Việt ra khỏi xứ" nhưng ê
kíp Pol Pot, Ieng Sary và Khieu Samphan nhất quyết đốt
giai đoạn biến Cam bốt đầu hôm sớm mai
thành một "nước xă hội chủ nghĩa
vẹn toàn", bất chấp lời khuyên của Chu.
Những biện pháp quá khích được đem ra thi hành
gấp làm cho xứ hổn loạn.
Tháng chạp 1976, khi phái đoàn chuyên viên Tàu của Fang
Yi sang giúp Miên th́ đă quá chậm: quần chúng kiệt
sức, thợ thuyền, công chức và trí thức bị
tiêu diệt, quân đội tan ră, gần 4000 lính Miên (do
Việt cộng huấn luyện năm 1976) bị tẩy
trừ. Từ 1975 cho đến 1978, Chính phủ Khờ Me
Đỏ đ̣i bộ đội Việt rời xứ nhưng
các đơn vị này chỉ di tản về biên
giới và tại đây, hai bên nhiều lần đụng
độ đẩm máu. Theo sự tiết lộ của
Hoàng Tùng, tổng biên tập báo Nhân Dân và ủy viên Chính
trị bộ, Bắc bộ phủ đă có ư đồ
chiếm Cam bốt từ 1970 - 1972. Cuối 1976, Đại
hội 4 Đảng Lao Động nhóm để đổi tên
thành Đảng CS Việt Nam và chấp thuận đề án
của Lê Duẫn xúc tiến việc thiết lập Liên
bang Đông Dương bằng cách thuyết phục và
nếu cần, áp lực quân sự Miên và Lào gia nhập.
Tháng 2-1978, Ủy ban Trung ương quyết nghị xóa
chế độ Pol Pot qua 4 giai đoạn: tố cáo
đường lối khát máu của Khờ Me Đỏ,
tấn công Bắc kinh viện trợ Nam Vang, xúi dân Miên
nổi loạn và tận dụng lá bài sô viết. Ngày
7-1-1979, với sự đồng ư và hổ trợ vủ
khí của Mạc Tư Khoa, 100.000 quân Việt tràn ngập
Cao miên và toàn thắng sau 2 tuần lễ. Trung quốc không
can thiệp, để tránh lún vào vũng lầy chiến
tranh như Hoa kỵ Tuy nhiên, Đặng Tiểu B́nh cảnh
cáo rằng trong tương lai, Bắc kinh sẽ "lấy
những quyết định ngoài ư muốn v́ ḥa b́nh".
Theo tạp chí Tàu cộng Geng Biao, 1.500 Hoa kiều bị
kẹt lại ở Cam bốt và phần đông đă gia
nhập hàng ngũ Khờ Me Đỏ để chống VN.
Ngày 8-1-79, Hội đồng Nhân Dân Cách Mạng, do bù nh́n
Heng Samrin cầm đầu, được Hànội công
nhận. Chính quyền Thái thận trọng đứng ngoài.
Lời kêu cứu của Sihanouk với Liên Hiệp
Quốc rơi vào sa mạc. Pol Pot rút vào rừng để
kháng chiến. Ngày 18-2-1979, Miên và Việt kư Hiệp ước
Thân hữu và Hợp tác có giá trị 25 năm, công khai hóa
việc quân đội Việt chiếm đóng Cộng ḥa
Nhân Dân Cam bốt và đặt chính thức xứ này dưới
chiếc dù quân sự của Hànội. Trước đó
hai năm, ngày 18-7-1977, Lào và VN đă kư một Hiệp
ước hữu nghị tương tơ Liên bang Đông Dương
thực hiện xong. Bằng vỏ lực.
3 - Tranh chấp Việt - Hoa về lănh thổ. Từ lâu, ba khu vực là đề tài cải vả giữa VN và Trung quốc:
4 - Hànội trục xuất Hoa kiều làm cho t́nh h́nh
căng thẳng tột độ. Đa số Hoa kiều
tại VN di cư từ hai tỉnh Quảng Đông va Phước
kiến, sau Trận giặc Nha phiến (1840- 1842). Họ
cần cù làm ăn, sống đoàn kết và không tham gia
chính trị Tại Nam Việt, trước 1975, hơn phân
nửa tổng số 1.300.000 người Hoa ủng hộ
Chính phủ quốc gia.
Sau Tết Mậu thân 1968, từ 75 đến 80% không có
thiện cảm với CS. Chỉ một số ít hoạt
động cho Hànội. Trước 1975, năm người
Việt gốc Hoa được bầu vào Hạ Viện.
Tại Chợlớn, người Hoa tổ chức thành 5
bang: Quảng Đông, Phước Kiến, Triều Châu,
Hẹ và Hakka, mổi bang được đại
diện bởi một bang trưởng chọn theo lối
đầu phiếu. Họ có một Pḥng Thương măi,
một bênh viện đặt tên Chung Cheng, một số
trường học và báo chí. Tháng 8.1956, TT Ngô Đ́nh
Diệm ban hành sắc lệnh buộc Hoa kiều bỏ
quốc tịch Tàu và nhập tịch VN nếu muốn
tiếp tục hành nghề. Tháng 4-1957, thẻ lư lịch
ngoại quốc bị coi như vô giá trị
Sau 30-4-975, Hànội áp dụng một loạt cải cách
kinh tế và xă hội để bần cùng hóa dân Nam. Hoa
kiều bị thiệt hại nặng nhất v́ có
của. Chiến dịch đánh giới trung lưu mái chính
compradores (1975), các quyết định liên tiếp quốc
hữu hóa công kỷ nghệ và thương mải,
nhiều lần đổi tiền bất chợt (1975 và
1978), việc đưa dân Bắc ào ạt định cư
trong Nam.. v...v... làm cho thiểu số này nhanh chóng kiệt
quệ. Đầu 1977, Việt-Hoa căng thẳng. Chính
quyền Hànội đuổi người Tàu sống
tại các tỉnh biên giới về Trung quốc. Tháng
5-1978, trong ṿng 13 hôm, con số này vượt lên đến
57,000, không kể 320,000 người bị đẩy đi
vùng kinh tế mới và 50,000 bị tịch thu tài sản.
Nhà Nước CHXHCN c̣n công bố cho phép ra đi vỉnh
viển những ai mang chiếu khán Hồng Kông, Đài Loan
hay Pháp.
Ngày 29 tháng 6, VN chính thức gia nhập COMECON, Bắc kinh
liền cúp viện trợ hoàn toàn, hồi hương 880
chuyên viên và đóng cửa Sứ quán. Hànội ra
lệnh cho Ṭa Tổng lănh sự Tàu ngưng hoạt động
tại thành phố Hồ Chí Minh. Ba lănh sự quán
Việt ở Nam Ninh, Côn Minh và Quảng Đông cũng
phải rút lui.
Từ tháng 9-1978, trong Tạp chí CS và tờ Quân Đội Nhân
Dân, nhà câm quyền Việt Nam bắt đầu kêu
gọi dân chúng sẳn sàng chống lại "chủ nghĩa
bành trướng của nước lớn và ư đồ
bá quyền của bọn Hán phong kiến". Liên hệ
Việt - Hoa "môi hở răng lạnh" tan thành mây
khói. Câu nói của Hồ "Việt và Hoa vừa là
bạn, vừa là anh em" chua cay hơn lúc nào hết.
Đặng Tiểu B́nh chuẩn bị chiến tranh
Chu Ân Lai qua đời đầu năm 1976 và Mao Trạch Đông, chín tháng sau. Nội t́nh Trung quốc xáo trộn v́ ba sự kiện hệ trọng:
Ngày 15-12-1978, Hoa kỳ công nhận Trung Hoa. Đặng
Tiểu B́nh liền bay qua Hoa Thịnh Đốn hội
kiến với Tổng thống Carter, báo tin riêng sẽ
tấn công VN và trấn an Mỹ rằng nhà cầm
quyền nước ông biết tự chế. Ngày 1-1-1979,
hai nước bang giao chính thức. Đặng cũng
viếng Nhựt và một số quốc gia Đông Á để
ḍ xét phản ứng. Tất cả đều lo ngại
về ư đồ tương lai của Việt cộng,
đồng minh của Mạc Tư Khoa. Trở về
Bắc Kinh, Đặng điều chỉnh kế hoạch.
Thay v́ gởi quân qua Cam bốt giúp Khờ Me Đỏ và
để tránh mang tiếng với Thế giới là "mưu
đồ bành trướng", Trung quốc quyết đánh
thẳng vào VN dưới h́nh thức "phản công
tự vệ", không dùng hải lực không quân, trong
một thời gian giới hạn và chỉ nhắm vào vùng
biên giới. Đặng muốn dạy cho nhóm lănh tụ
tại Bắc bộ phủ "một bài học quân
sự đich đáng".
Mục phiêu thật của "sự trừng phạt"
là gỉ Tiêu hủy vài sư đoàn, căn cứ
chiến lược hay chiếm một giải đất
biên pḥng của đối phương? Đặng không cho
biết thâm ư. Dù sao, theo học giả King C. Chen, "chiến
tranh trừng phạt, the Punitive War" tượng trưng
cho chính sách đối ngoại của Bắc Kinh tại
Á châu từ 1949. Hành quân năm 1979 chống VN được
chuẩn bị chu đáo như cuộc đụng độ
Hoa-Ấn năm 1962 và không hấp tấp như trường
hợp Trung cộng tham chiến ở Triều tiên hay
vụ Nga sô can thiệp ở Tiệp khắc và Hung Gia
lợi.
Bài học quân sự 1979
Năm 1938, Mao giải thích như sau quan điểm
của Lê nin về chiến tranh: "Khi chính trị
mở rộng đến mức không c̣n tiến tới
được bằng đường lối thông thường
th́ chiến tranh bùng nổ để san bằng các
trở ngại gặp phải". Lê nin từng viết:
"Chiến tranh chỉ là chính trị nối tiếp
bằng những phương tiện khác". Câu này
dựa vào ư kiến của Karl Von Clausewitz:"Chiến
tranh không phăi là hành vi đơn giản của chính sách
mà là một lợi khí chính trị đích thực,
một sự tiếp tục của hoạt động chính
trị với phương thức khác". Cuộc
chiến để sát phạt VN, dù núp dưới danh xưng
phản công tự vệ, được khởi xướng
đúng theo chủ trương trên đây.
Các lănh tụ Trung quốc đă cân nhắc quyết định
của họ hai năm (1977-1979), với hy vọng b́nh thường
hóa bằng vơ lực mối bang giao Hoa-Việt. Muốn thành
đạt, chiến tranh nhân dân cần hội một
số điều kiện: đảng và quân thống
nhất, quần chúng hỗ trợ, đất nước
hậu tiến, vủ khí quy ước, kỷ thuật
lạc hậu, ngoại xâm đe dọa và đấu tranh
trường kỳ.
Trước tháng 2-1979. Trung quốc có 3,600,000 quân nhân
tại ngũ và 175 sư đoàn tại 11 vùng chiến
thuật. Vơ khí gồm có 10,000 chiến xa, 20,000 giàn phóng
hỏa tiển, 16,000 cà nông và phương tiện chuyên
chở rất lạc hậu. Hải quân có 30,000 thủy
thủ, 75 tiềm thủy đỉnh. Hạm đội
Bắc Hải có 300 chiến hạm, Đông hải: 450 và Nam
hải: 300. Lực lượng không quân có 400,000 phi công,
5,000 chiến đấu cơ củ và lỗi thời,
loại Mig 15, 17, 19 và 80 Mig 21. Đặng Tiểu B́nh là
Tổng Tư lệnh hành quân, với 2 phụ tá Xu
Xiangqian và Nie Rongzhen, tướng Gen Biao giữ chức Tham
mưu trưởng.
Về phía VN, tổng quân số lên đến 600,000 phân
chia 200,000 tại Cam bốt, 100,000 tại Lào, 100,000 tại
Nam Việt, và 200,000 ở Bắc Việt. Xung quanh Hànội,
có 5 sư đoàn và 4 lữ đoàn. Dài theo biên giới
Trung hoa, VN có 150,000 dân quân tổ chức thành 6 sư đoàn
địa phương và một trung đoàn. Không lực
Việt có 300 chiến đấu cơ (70 Mig 19, 21 Mig 70, và
một số F-5 tịch thu của Mỹ năm 1975).
Hải quân Việt có 2 chiếc PETYA sô viết với ḥa
tiễn chống tiềm thủy đĩnh, và 60 tàu
tuần tiểu.
Cuộc "hành quân sát phạt" kéo dài 16 ngày, chia
thành 2 giai đoạn:
Thẩm lượng "bài học quân sự 1979"
1 - Thiệt hại của đôi bên
Dưới đây là bản kê khai thiệt hại căn cứ vào tài liệu mỗi phía, trích từ quyển sách "China's War With Việt Nam, 1979" của Gs King G. Chen, trang 114:
Trung quốc
Việt Nam
Hoa lẫn Việt đều tuyên bố thắng
trận nhưng không xứ nào hoàn thành mục tiêu chính
yếu. Trung quốc không hủy được một sư
đoàn Việt nào, không chấm dứt được
xung đột tại biên giới, không ép được
các đơn vị Việt rút khỏi Cam bốt và cũng
không thuyết phục nổi VN thay đổi chính sách
đối với Hoa kiều. Tuy nhiên, Bắc Kinh đă gây
ra tại Hànội sự nghi ngờ về thực tâm
của Mạc Tư Khoa can thiệp bằng vơ lực để
chống Trung cộng ở VN. Mặt khác, khối Asean
đă lên tiếng ủng hộ Tàu trong cố gắng
chận chủ nghĩa bành trướng của CS Việt
tại Đông Á và, dưới khía cạnh này, gây thiệt
hại cho nền kinh tế Việt không ít. Ngày 26.3.1979,
Jiefangjun Bao viết trong bài xă luận: "Cuộc
chiến 1979 đă làm sáng tỏ những ư kiến sai
lệch về vấn đề chiến tranh và một
số vấn đề khác". Không thấy báo xác định
rơ vấn đề ǵ. Sáu tháng sau, nhân lể kỷ
niệm 30 năm thành lập Cộng ḥa Nhân Dân Trung
quốc, Tổng trưởng Quốc Pḥng Xu Xiangqian tŕnh bày
quan điểm trong tạp chí Quân Đội: "Như chúng
ta biết, trong lịch sử chiến tranh, có nhiều
cuộc thất trận không v́ nhân lực yếu hay
vỏ khí kém, nhưng bởi tư tưởng quân sự
lạc hậu và chỉ huy sai lầm".
Một kết luận thực tế là năm 1979, tại
VN, các lănh tụ Trung Hoa vừa dạy đối phương
và vừa thu thập một bài học hữu ích: Quân
đội Trung Hoa không thể thắng một cuộc
chiến tân tiến trước khi được hiện
đại hóa về vơ khí và chiến lược. Đối
với VN, hậu quả của cuộc chiến nặng
nề hơn, về nhiều phương diện:
2 - Hậu quả quốc tế
A ) Thái độ của Khối Asean
Từ 1979, chính sách của Asean có tính cách liên tục.
Trong thời gian tháng 2 đến tháng 8, 1979, phần đông
các nước thành viên âm thầm tán đồng cuộc
hành quân của Bắc Kinh nhưng sau đó kêu gọi chính
thức chấm dứt xung đột. Từ tháng 9 đến
tháng 6.1982, Asean khuyến cáo VN rút quân khỏi Cam bốt
để quốc gia này tổ chức bầu cử
tự do. Việc Trung quốc ngưng xô xát với VN giúp
xúc tiến giải pháp. Từ tháng 6.1982 về sau, Asean
vận động thành lập một liên minh chính trị
do Sihanouk lănh đạo trong khi vẫn áp lực Hànội.
Kết quả là tháng 7.1982, Hội nghị Ngoại trưởng
3 nước Đông Dương ra thông cáo đề nghị
rút một phần quân Việt khỏi Cam bốt, lập
một hành lang an ninh giữa Thái và Miên và tổ chức
Hội nghị Đông Á.
B) Các quốc gia khác trên thế giới
Khi chiến tranh Hoa - Việt nổ lớn, Tiệp
khắc, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Bulgarie, Cuba và Lào
chỉ trích mạnh Bắc kinh. Nhựt và Tây Đức
cắt viên trợ v́ VN chiếm Cam bốt. Ấn độ
công nhận Chính phủ Heng Samrin để phản đối
Trung quốc. Nam và Bắc Hàn im lặng, giữ thế
trung lập. Mỹ có cảm t́nh với Đặng Tiẻu B́nh
v́ lo ngại Liên sô bành trướng, theo dơi t́nh h́nh và
khuyên hai đối phương tự chế.
Ba yếu tố căn bản đă ảnh hưởng sâu
đậm cuộc chiến 1979: Quyền lợi quốc gia
và chiến lược - Ư thức hệ Cộng sản và
Ḷng ái quốc. Một số vấn đề đă khích
động nhóm người lănh đạo có trách vụ
quyết định. Tuy nhiên không một ai nghĩ rằng
nước Tàu thực sự bị đe dọa về
mặt an ninh vào thời khoảng đó. Trung quốc và
Việt Nam không đi đến chiến tranh toàn diện
v́ cả hai thuộc phe xă hội chủ nghĩa. Tinh
thần yêu nước và "mặc cảm huynh trưởng
tự tôn" thúc đẩy Bắc kinh đ̣i hỏi
đất đai, với mong ước tái lập ảnh
hưởng cũ trong vùng. T́nh anh em lâu đời
giữa hai quốc gia láng giềng ngăn họ kéo dài
một cuộc chiến đẩm máu. Bởi thế,
sự đọ sức được giữ ở
mức trung, may thay. Điểm khác đáng lưu ư là vai tṛ
của lănh đạo. Đúng thế, lănh đạo đẻ
ra chính sách. Và chính sách vẽ đường cho ngoại
giao. Nhân cách Đặng Tiểu B́nh chi phối cuộc
khủng hoảng 1979 được mệnh danh "chiến
tranh của Đặng Tiểu B́nh". Đặng mưu trí,
nhẫn nại, liều lĩnh và thực tiển. Đối
diện là Lê Duẫn, không có kinh nghiệm sâu sắc
về nước Tàu v́ ở tù ngoài Côn đảo trong
giai đoạn Việt Minh kháng chiến 1940-1950 với
sự ủng hộ duy nhất và nhiệt t́nh của
Bắc Kinh. Duẫn lên nắm quyền sau Trường
Chinh giữa thập niên 50 và nhờ Nga hỗ trợ để
giữ ghế khi Hồ qua đời năm 1969. Duẫn không
uyển chuyển và kiên gan như Hồ nên lao ḿnh vào
một cuộc chiến mà Hồ có thể tránh khỏi.
Một bài học quân sự thứ hai? Tháng 4-1985, Quân
đội CSVN tảo thanh biên giới Thái - Miên, Son Sann hù
dọa Hànội rằng Trung quốc chuẩn bị
một bài học khác. Mùa đông 1984-1985, VN thành công
dẹp phiến loạn Miên. Lại có tin đồn
giống như thế. Tại Bắc Kinh, Đặng Tiểu
B́nh, Lư Chấn Nhiệm và Hoàng Hoa không bỏ hẳn ư
định này. Giới truyền thông Tây phương, chính
giới Hoa kỳ và Nghị sĩ Henry Jackson cũng tiên
đoán bi quan.
Ngày nay, t́nh h́nh thế giới có nhiều biến
chuyển. Liên Sô và CS Đông Âu đă sụp độ Trung
Quốc và VN đang đổi mới kinh tế để
cứu nguy chế độ. Bang giao giữa hai nước
sáng sủa hơn sau ngày Lê Duẫn về chầu Các Mác
vào tháng 7-1986 và Quân đội Việt bị buộc
rời Cam bốt. Tuy nhiên, hai nước chưa giải
quyết được một số tranh chấp, gay
cấn. Vẫn có nguy cơ nổ lớn. Ảnh hưởng
của chính quyền Hànội c̣n mạnh tại Đông dương.
Cộng sản đă cho định cư 200,000 dân
Việt tại Miên và 100,000 tại Lào. Trung Hoa - thành công
hay thất bại - măi măi sẽ là mối ám ảnh
của nước Việt Nam bé nhỏ. Ngược
lại, Việt Nam luôn luôn là khúc xương khó nuốt
của anh chàng khổng lồ phương Bắc. Đồng
sàng nhưng dị mộng. Buộc phải sống chung ḥa
b́nh.
Lâm Lễ Trinh