Bang Giao Việt Nam - Trung Quốc và
Chuyến Đi Bắc Kinh Của Nông Đức Mạnh
Trần Trọng Nghĩa
Trong lúc Quốc Hội Hà Nội khóa X đang họp
lần 10, trước tiếng hô phản đối
của nông dân tụ tập trước Hội Trường
Ba Đ́nh khiếu kiện cộng sản cướp đất,
đoạt nhà của dân, th́ Nông Đức Mạnh,
Tổng Bí Thư đảng CSVN mới lên ngôi vị
từ tháng 4/2001 vừa qua, đă dẫn một phái đoàn
hùng hậu gồm các quan chức Đảng và Nhà Nước
công du Bắc Kinh từ ngày 30/11 đến ngày 4/12 vừa
qua. Giới quan sát quốc tế đánh giá: "Đây là
chuyến đi mang tính chiến lược, chứng
tỏ Trung Quốc muốn vận động sự
hậu thuẫn của các nước Đông Nam Á, kể
cả Việt Nam". Dưới con mắt của người
dân Việt Nam, có lẽ chuyến đi Bắc Kinh của
ông Mạnh, có thể mang tính chiến lược, nhưng
không phải chiến lược đối với Trung
Quốc mà là chiến lược đối với
những ngày tàn của chế độ CSVN. Chuyến
đi này trùng hợp với 3 sự kiện: Tổng
bí thư mới, Hiệp ước thương
mại với Hoa Kỳ, và Hiệp định
về biên giới trên đất liền, trên biển và
hợp tác nghề cá giữa Cộng Ḥa XHCN Việt Nam và
Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc. Mối bang giao Hà
Nội - Bắc Kinh.
Tuy rằng từ ngày chế độ CSVN mất hết
chỗ dựa vào Liên Xô cũng như khối cộng
sản Đông Âu và phải hồi đầu về với
Bắc Kinh để nối lại bang giao, Hà Nội luôn
luôn rêu rao rằng "mối quan hệ láng giềng
hữu nghị truyền thống giữa hai nước
dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của nhau, không
xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc
nội bộ của nhau, b́nh đẳng cùng có lợi, cùng
tồn tại ḥa b́nh"; nhưng thực chất, ai cũng
biết mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh
không phải như vậy. Từ em bé đến ông già bà
lăo, nếu có đi học th́ cũng biết lịch
sử Việt Nam và biết dân tộc Việt Nam từ hơn
4 ngàn năm qua đă bao phen anh dũng chống giặc
ngoại xâm từ phía Bắc tràn qua. Trước đây,
cộng sản thường hay đổ cho các triều
đại phong kiến Trung Hoa với bản chất tham
lam, hiếu chiến đă xâm lược nước ta.
Họ khoe khoang giai cấp vô sản, khoe khoang các nước
đi theo chủ nghĩa xă hội là "các nước
anh em". Riêng đối với Trung Hoa Cộng Sản,
ra đời từ năm 1949, th́ người dân Việt
Nam ai cũng nhớ những lời tuyên bố của
những lănh tụ của chế độ ca ngợi "t́nh
hữu nghị thắm thiết" giữa nước
Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và nước Cộng Ḥa
Nhân Dân Trung Hoa và mối bang giao được ví như "răng
và môi"... Nếu không có "biến cố biên
giới" năm 1979, khi răng cắn môi máu chảy
thịt rơi, khi quân của Bắc Kinh kéo sang xâm lăng,
đánh chiếm hai tỉnh Lào Kay, Cao Bằng khiến phía
Việt Nam có đến 30.000 người chết và 32.000
người bị thương và phía Trung Quốc có 26.000
chết và 37.000 bị thương, không kể dân chúng
bị tên bay, đạn lạc th́ có lẽ dân chúng tưởng
thật. Thực tế, nếu người dân không bị
Hà Nội bưng bít thông tin, th́ cũng biết được
chiến xa Liên Xô đă từng tiến vào Budapest, Hung Gia
Lợi vào năm 1956 và duy tŕ sự hiện diện quân
sự tại nước này cho đến năm 1990.
Họ cũng đă cùng các "nước XHCN anh em"
như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Bảo Gia Lợi và Đông Đức
xua 650 ngàn quân và chiến xa xâm lăng Tiệp Khắc,
tiến vào đàn áp dân chúng tại thủ đô Praha.
Những dữ kiện lịch sử điển h́nh trên
đây đă cho người ta thấy dă tâm của
cộng sản đối với nhau: Dă tâm giữa người
cộng sản đối với người cộng
sản với hàng triệu người đă bị
giết trong các đợt thanh trừng dưới
thời Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh... Dă tâm
giữa nước cộng sản này với nước
cộng sản kia. Đặc biệt là giữa các nước
cộng sản lớn đối với các nước
gọi là chư hầu.
V́ CSVN là một chư hầu nên trước đây đă
phải quỳ lụy Liên Xô và Trung Quốc (xem VNDC
số 62, 11/2000). Sự lệ thuộc này mang tính toàn
diện và có thể coi như chế độ CSVN đă
trở thành chư hầu của Trung Cộng. Trong cuộc
tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Quốc trước
đây, CSVN đă ngă theo Liên Xô và đă đứng
ở vị thế đối đầu với Trung
Quốc. Khi Đặng Tiểu B́nh tuyên bố dạy cho
Việt Nam "một bài học", CSVN đă không
ngần ngại xung đột vơ trang trong cuộc chiến
tranh biên giới với Trung Quốc. Bộ máy tuyên
truyền của Hà Nội đă cạn tàu ráo máng
với Trung Quốc, coi Trung Quốc là kẻ thù không đội
trời chung. Sự đoạn giao ngỡ rằng măi măi
sẽ không thể nào hàn gắn lại được. Nhưng
vào năm 1991, trong thế cùng quẫn, lănh đạo CSVN
đă phải hồi đầu quy phục "Bắc
Triều" để khỏi bị cô đơn trên
trường quốc tế, để khỏi bị
nội loạn trong đảng lật đổ, để
trấn áp nhân dân đ̣i tự do, dân chủ... Tuy bề
ngoài, việc nối lại bang giao giữa Hà Nội và
Bắc Kinh được thể hiện chính thức qua
những Hiệp Định Hợp Tác kinh tế được
kư kết vào ngày 07/11/1991, nhưng những ǵ đă
được thảo luận, những yêu sách nào phía
Trung Quốc đă đưa ra, những ǵ Hà Nội đă
nhượng bộ để đổi lấy sự che
chở của Bắc Kinh mà sống c̣n... đương
nhiên là những điều CSVN phải dấu kín. Không công
bố th́ người ta cũng có thể phỏng đoán
là Bắc Kinh chắc chắn đă đặt những
điều kiện thắt họng và Hà Nội phải
chấp nhận trả giá rất đắt di hại cho
đất nước, dân tộc về lâu về dài.
Một trong những điều người ta cũng nh́n
thấy là Hà Nội đă phải chấp nhận sự
lệ thuộc vào Bắc Kinh. Sự lệ thuộc
của chế độ này có thể c̣n khắc
nghiệt hơn trong thời kỳ chủ nghĩa cộng
sản c̣n đang thời hưng thịnh rất nhiều.
Hiện tượng Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu và
mới đây là Nông Đức Mạnh phải thân chinh sang
tŕnh diện Bắc Kinh để được "sắc
phong" là những chỉ dấu đầu tiên,
dễ thấy nhất của cái thế chư hầu trong
nền bang giao giữa CSVN với Trung Quốc.
Bang giao Việt-Trung và Hiệp ước thương mại Mỹ-Việt
Ngay sau khi khối Liên Xô tan vỡ, cộng sản đă ư thức được mối nguy cơ sụp nếu không cứu văn được nền kinh tế để cho người dân có được đôi chút lợi nhuận mà trong thời kỳ áp dụng chủ nghĩa cộng sản trước đó chế độ đă cướp đoạt toàn bộ. Cùng lúc, cộng sản Hà Nội đă phải tung ra chính sách gọi là "đổi mới'; nhưng thực chất là từ bỏ mô thức kinh tế xă hội chủ nghĩa để chạy theo kinh tế thị trường và mở cửa đối với đầu tư quốc tế, đặc biệt là với Hoa Kỳ. Cấp thời, Hà Nội cũng đă chủ động nối lại bang giao với Bắc Kinh. Người ta hiểu được, vào thời điểm đó, Hà Nội ví như người sắp chết đuối v́ con thuyền XHCN Liên Xô và Đông Âu đă bị ch́m sâu dưới đáy biển, nên họ quơ quào, vái lạy tứ phương mong sao vớ được cái phao cứu mạng.
Biết rằng t́m cách thiết lập bang giao với Mỹ là một điều rất khó, v́ chủ quan mà nói th́ nội bộ đảng cộng sản Hà Nội và một phần nào đó trong nhân dân Việt Nam bị sự tuyên truyền của họ, vẫn c̣n coi Hoa Kỳ là thù nghịch, là "đế quốc xâm lược". Ấn tượng này, đến ngày nay vẫn c̣n tồn tại, ít là trong một nhóm giáo điều trên thượng tầng lănh đạo. Mặc dầu vậy, nhưng Hà Nội vẫn phải nh́n nhận là tiềm năng kinh tế của Hoa Kỳ là vượt trội trên thế giới, có khả năng vực lại nền kinh tế èo uột của Việt Nam. Dù sao th́ hiện nay Hoa Kỳ cũng được coi như cuờng quốc bá chủ trên thế giới kể cả về mặt kinh tế lẫn quân sự. Bang giao với Mỹ là một ước mơ thầm kín của phần lớn tập đoàn lănh đạo Cộng Sản Hà Nội. Nó cũng là ước mơ công khai của giới làm ăn buôn bán và của đại bộ phận quần chúng nhân dân. Nói là ước mơ v́ không tiện công khai nói ra và cũng c̣n khó khăn để thực hiện. Người ta ghi nhận, Hà Nội đă đầu tư nhiều nỗ lực vận động gián tiếp qua những nước Âu Châu, hay trực tiếp qua những cựu tù binh Mỹ đă "học tập tốt, cải tạo tốt".
Thiết lập bang giao với Mỹ đă khó và cơ
bản th́ đă đạt được. Nhưng
nối lại bang giao với Trung Cộng tuy cũng đă
hoàn thành trên cơ bản nhưng lại tạo ra
nhiều khó khăn hơn. Bắc Kinh không tiện công khai
biểu lộ, nhưng người ta nhận xét là
Bắc Kinh đă không hài ḷng với những nỗ
lực của Hà Nội nhằm tiếp cận những
quốc gia Tây Phương. Có hai lư do chính: một là
với bản chất bá quyền, nước lớn trong
lúc CSVN đă thần phục; hai là trên b́nh diện kinh
tế thị trường quốc tế, Hà Nội và
Trung Quốc sẽ ở vào thế cạnh tranh không nhân
nhượng. Chính v́ những lư do đó mà sự
thiết lập bang giao giữa Hà Nội với Mỹ
đă gặp khá nhiều trở ngại. Điển h́nh, người
ta thấy rơ nhất sự can thiệp của Trung Quốc
trong vụ kư Hiệp Ước Thương Mại
với Mỹ.
Như người ta đă biết, lúc CSVN nối lại
bang giao với Trung Quốc th́ cũng là lúc họ t́m cách
thiết lập bang giao với Hoa Kỳ. Sau nhiều nỗ
lực vận động qua các chính phủ trung gian và
nhiều cuộc thương thuyết, nhất là vào
thời điểm đó, vụ "t́m kiếm người
Mỹ mất tích" trong chiến tranh Việt Nam đang
là vấn đề lớn của Mỹ, vào ngày 28/01/1995,
Hoa Thịnh Đốn và Hà Nội đă kư kết hiệp
định thiết lập các "Văn Pḥng Liên
Lạc" tại thủ đô hai nước. Đến
ngày 08/08/1995, quan hệ ngoại giao giữa hai nước
đă được bước đầu thiết
lập. Đầu năm 1996, hai bên bắt đầu
thảo luận về "Quy chế quan hệ mậu
dịch b́nh thường" giữa cộng sản Hà
Nội và Hoa Kỳ. Trong các cuộc thương thuyết,
phái đoàn Hà Nội, đă do Nguyễn Tấn Dũng và
Nguyễn Đ́nh Lương hướng dẫn; và về phía
Hoa Kỳ do ông Joe Damond chủ tŕ. Cũng từ năm
đó, tổng thống Mỹ đă hàng năm phải kư
sắc lệnh băi miễn luật Jackson-Vanick cho Hà Nội.
Cuộc thương thuyết kéo dài 4 năm trời và vào
tháng 7/1999, hai bên đă kư tắt trên các văn kiện
của Hiệp Ước. Hiệp Ước này chỉ c̣n
chờ được các nhân vật thẩm quyền
của hai chính phủ chính thức kư kết. Việc này
đă được dự trù xảy ra nhân cuộc
họp thượng đỉnh các nước APEC (Hợp
Tác Kinh Tế Á Châu Thái B́nh Dương) tại Auckland,
Tân Tây Lan và sẽ được chính tổng thống
Bill Clinton kư kết với Phan Văn Khải. Vào giờ chót,
bỗng nhiên một bức điện từ Việt Nam
gửi sang yêu cầu thủ tướng Phan văn
Khải không được kư kết mà không đưa ra
được lư do nào chính đáng. Hà Nội sau đó
chỉ cho biết là cần thảo luận lại v́ có
nhiều điểm bất công đối với Việt
Nam. Theo lời Phan Văn Khải th́ Hiệp Ước
đă không được Bộ Chính Trị đảng
CSVN chấp thuận. T́m hiểu nguyên nhân th́ người
ta được biết là thực chất, trong Bộ Chính
Trị, chỉ có một người là Đỗ Mười,
lúc đó 82 tuổi, đă dùng quyền phủ quyết.
Đến năm 2000, Hà Nội cố gắng vận động
để được kư lại; nhưng vẫn ngoan
cố đ̣i thảo luận lại toàn bộ Hiệp
Ước. Hoa Kỳ đă tỏ ra cứng rắn và
trả lời thẳng rằng họ từ chối không
thảo luận lại những ǵ đă thảo luận và
chỉ giải thích thêm những ǵ Hà Nội không
hiểu mà thôi. Hoa Kỳ cũng cho biết là họ không
thể mất thời giờ hơn nữa để
cuối cùng, chỉ v́ một ư kiến trong Bộ Chính
Trị của chế độ có thể phá hỏng
hết. Hà Nội phải chấp thuận và Hiệp Ước
đă được hai bên chính thức kư kết ngày
12/07/2000.
Công việc tiếp theo là bản Hiệp Ước
phải được Quốc Hội của hai nước
phê chuẩn. Tại Hoa Kỳ Quốc Hội bao gồm
Hạ Nghị Viện và Thượng Nghị Viện.
Hạ Viện Hoa Kỳ đă biểu quyết thông qua
Hiệp Ước Thương Mại với Việt Nam vào
ngày 06/09/2001 như bỏ một cục đường vào
miệng Hà Nội, v́ nếu Hạ Viện đă thông qua
th́ ít khi Thượng Viện chống lại. Nhưng
hiểm một cái là cùng ngày hôm đó, Hạ Viện cũng
thông qua "Đạo Luật Nhân Quyền Tại Việt
Nam" với tuyệt đại đa số, khiến
cho Hà Nội phản ứng điên cuồng như cắn
phải ớt. Quả như dự đoán, Thượng
Viện đă phê chuẩn Hiệp Ước Này. Phía
Việt Nam th́ Hiệp Ước cũng vừa được
Quốc Hội phê chuẩn vào ngày 28/11/01 vừa qua
với 278 phiếu thuận, 85 phiếu chống và 17
phiếu trắng. Ngay khi Hiệp Ước vừa
được thông qua, CSVN đă vội vă cử hai phái
đoàn đi hai nơi khác nhau. Phái đoàn thứ
nhất do Nguyễn Tấn Dũng, phó thủ tướng
hướng dẫn đi Hoa Kỳ và phái đoàn thứ
nh́ do Nông Đức Mạnh hướng dẫn đi Trung
Quốc. Theo tin của hăng thông tấn Reuters đánh đi
hôm 12/12, qua một buổi lễ trao đổi văn thư
tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ,
hiệp ước thương mại Việt-Mỹ đă
bắt đầu có hiệu lực. Vào chiều ngày 10/12,
Đại Diện Mậu Dịch Hoa Kỳ Robert Zoellick và
Bộ Trưởng Thương Mại Hà Nội Vũ
Khoan đă trao đổi văn thư kư nhận hiệp
ước thương mại.
Thế là đă phải trải qua 6 năm trời, từ
lúc bắt đầu thương thuyết cho tới lúc
trao đổi Hiệp Ước, với bao nhiêu trắc
trở chủ quan cũng như khách quan. Dù chẳng ai nói
ra, nhưng người ta đă thấy ảnh hưởng
to lớn của Bắc Kinh lên chế độ cộng
sản Hà Nội trong việc kư hiệp ước này
với Hoa Kỳ. Nay hiệp ước đă có hiệu
lực. Việt Nam đă nghiễm nhiên trở thành
một đối tác với Hoa Kỳ và trở thành
một quốc gia cạnh tranh với Trung Quốc trên
thị trường to lớn của Mỹ. Tuy sẽ không
có tiếng súng ở biên giới, nhưng lănh vực kinh
tế, mậu dịch sẽ trở nên một chiến trường
gay go không kém. Chính v́ sẽ phải ở vào thế coi
nhau là đối phương, nếu không muốn nói là
đối nghịch, trên thị trường thế
giới và Hoa Kỳ mà Nông Đức Mạnh, nhân khi sang tŕnh
diện v́ mới lên ngôi Tổng Bí Thư, sẽ phải
tŕnh tấu với Thiên Triều. Không biết rồi trên
lănh vực kinh tế này, nước ta sẽ phải
chịu thêm những điều kiện khắc nghiệt
nào nữa của Trung Quốc, do CSVN rước về?
Các Hiệp Định về biên giới trên bộ và trên biển
Người ta c̣n nhớ, ngay từ khi mới chiếm
xong lục địa, Mao Trạch Đông đă nḥm ngó biên
giới Việt Nam - Trung Quốc. Trong bài viết nhan đề
"Mốc mới trong quan hệ Việt - Trung"
của Vũ Khoan, Ủy viên Trung Ương Đảng CSVN,
nguyên Thứ Trưởng Ngoại Giao và nay là Bộ Trưởng
Thương Mại trong Tạp Chí Cộng Sản số 2,
1/2000, có câu: "Sau khi nước Cộng ḥa nhân dân
Trung Hoa ra đời (1949), một số lần nước
ta và Trung Quốc đă trao đổi ư kiến, đàm phán
về vấn đề biên giới trên bộ". Ngay
khi vừa "nối lại bang giao với Trung Quốc vào
năm 1991 qua Hiệp Ước Hợp Tác Kinh Tế
(07/11/1991), người ta thấy, việc đầu tiên Hà
Nội xúc tiến ngay là hội đàm với Bắc Kinh
về biên giới trên đất liền và trên vịnh
Bắc Việt. Kết quả, như Vũ Khoan đă
viết, là: "ngày 19/10/1993, hai bên đă kư thỏa
thuận về các nguyên tắc giải quyết các
vấn đề biên giới lănh thổ, làm kim chỉ nam
cho cuộc đàm phán tiếp theo". V́ thế,
nếu khẳng định là điều kiện tiên
quyết của Bắc Kinh đối với Hà Nội là
vấn đề biên giới, th́ cũng không xa sự
thật là bao nhiêu. Dĩ nhiên là Bắc Kinh ở thế
thượng phong nên đă treo giá cao và Hà Nội phải
chịu nhiều thua thiệt.
Những cuộc thương thuyết đă kéo dài từ
10 năm nay giữa hai đảng cộng sản với
nhau v́ thực chất chính phủ là công cụ của
đảng và chỉ có nhiệm vụ làm theo đảng,
hay nói rơ hơn là làm theo tập đoàn đầu lănh
trong Bộ Chính Trị. Cuối cùng, cũng theo Vũ Khoan,
"Ngày 30-12-1999, ngay bên thềm của năm mới,
thế kỷ mới và thiên kỷ mới, tại Hà
Nội đă diễn ra một sự kiện quan trọng
được dư luận cả nước và thế
giới quan tâm: đó là Hiệp ước về biên
giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung
Quốc được kư kết". Bản
hiệp ước này đă được Quốc
Hội cộng sản Hà Nội biểu quyết thông qua vào
ngày 19/06/2000. Hai bên đă trao đổi hiệp ước
được phê chuẩn tại Bắc Kinh vào ngày
06/07/2000 sau đó, và đă trở thành có hiệu lực.
Về lănh hải trên Vịnh Bắc Việt, Lê Công
Phụng, Trưởng phái đoàn thương thuyết,
đồng thời cũng là Thứ trưởng ngoại
giao của chính quyền cộng sản Hà Nội đă
viết một bài nhan đề "Hiệp định
phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định
hợp tác nghề cá giữa Việt Nam - Trung Quốc trong
vịnh Bắc Bộ" đăng trong Tạp Chí
Cộng Sản số 2, tháng 1/2001. Mở đầu bài
viết, Lê Công Phụng loan tin một cách phấn khởi:
"Nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc
của Chủ tịch Trần Đức Lương, ngày
25/12/2000, nước ta và Trung Quốc đă kư Hiệp
định phân định Vịnh Bắc Bộ và
Hiệp định hợp tác nghề cá trong Vịnh
Bắc Bộ. Lễ kư kết được tổ
chức với sự chứng kiến của Chủ
tịch Trần Đức Lương và Chủ tịch Giang
Trạch Dân". Hiệp định này chỉ mới
được đưa ra đệ tŕnh Quốc Hội
hồi cuối tháng 11/2001 vừa qua, tức là gần 1 năm
sau. Sự chậm trễ này có thể là v́ ngay trong
nội bộ đảng viên các cấp đă không đồng
ư với những nhượng bộ to lớn của lănh
đạo Hà Nội. Bằng chứng là người ta
đă biết đến bức thư của ông Đỗ
Việt Sơn, một đảng viên cộng sản lăo
thành với 78 tuổi đời và 54 tuổi đảng,
gửi những người lănh đạo cao cấp
nhất của đảng CSVN và Nhà Nước yêu
cầu Quốc Hội không thông qua "Hiệp định
biên giới Việt Trung". Ông cho biết ngay từ
tháng 2/2001 ông đă kiến nghị không thông qua hiệp
định này v́ "đây là một Hiệp định
mà phía Việt Nam nhượng bộ quá nhiều. Theo tôi,
đó là một sai lầm lớn của Đảng và Chính
phủ mà dân tộc ta chưa triều đại nào
chịu nhượng bộ nhiều như thế".
Tiếp theo, 20 cử tri gồm những người trí
thức trong và ngoài đảng cũng đă viết
một bức thư nội dung tương tự. Một
số nhà nghiên cứu đă sưu tầm nhiều tài
liệu liên quan đến lănh thổ và lănh hải
của Việt Nam để t́m hiểu xem Hà Nội đă
nhượng bộ những ǵ. Căn cứ theo những tài
liệu đó và những ǵ Hà Nội đă kư kết
với Trung Quốc, Hà Nội đă cắt khoảng 720
km2 trên bộ và 10% diện tích Vịnh Bắc Bộ. Người
ta biết, diện tích Vịnh Bắc Việt đo
được 123.700 km2. Cắt 10% cho Trung Quốc, Việt
Nam đă mất đi 12.370km2!
Dư luận trong và ngoài nước từ hơn một
tháng nay đă vô cùng sôi nổi về việc cộng
sản Hà Nội đă thông qua các hiệp định
vừa kể cắt đất, cắt biển nhượng
cho Trung Quốc. Nhiều người đă gọi hành
động này là "bán nước". Chính dư
luận bất thuận lợi này đă khiến Quốc
Hội cộng sản Hà Nội chùn tay. Cũng chính dư
luận bất thuận lợi này sẽ khiến cho
việc thực thi Hiệp định gặp trở
ngại và khiến phật ḷng Trung Quốc. V́ vậy
chuyến đi của Nông Đức Mạnh sang triều
kiến Bắc Kinh kỳ này c̣n có mục đích giải
thích và trấn an Thiên Triều. Cộng sản Hà Nội
đă đặt tay kư kết các hiệp định bán nước
này rồi. Dù thế nào họ cũng sẽ phải thi hành
mà thôi. Đọc bản thông cáo chung th́ người ta cũng
thấy rơ là Trung Quốc rất quan tâm đến các
hiệp định này và khó mà Nông Đức Mạnh và
tập đoàn lănh đạo CSVN có thể cựa
quậy được.
Bản tuyên bố chung
Sau khi tới Bắc Kinh ngày 30/11/2001, Nông Đức
Mạnh và đoàn tùy tùng cao cấp nhất của đảng
và Nhà Nước CSVN đă bệ kiến Giang Trạch Dân
vừa là Chủ Tịch Nước, vừa là Tổng Bí
Thư đảng cộng sản Trung Quốc. Sau đó,
họ đă lục tục tới các dinh các phủ
của Lư Bằng, Chu Dung Cơ, Lư Thụy Hoàn, Hồ
Cẩm Đào... Bản Tuyên Bố Chung viết: "Hai bên
đă thông báo cho nhau t́nh h́nh mỗi Đảng, mỗi nước..."
Thực chất đây là màn Nông Đức Mạnh phải
báo cáo với Bắc Kinh t́nh h́nh của đảng và
chế độ CSVN. Bắc Kinh đời nào lại
đi phúc tŕnh t́nh h́nh đảng cộng sản Trung
Quốc cho Việt Nam? Ở một đoạn sau viết
tiếp: "chuyến viếng thăm này là một
sự kiện trọng đại trong quan hệ hai Đảng,
hai nước vào đầu thế kỷ mới, góp
phần quan trọng vào việc tăng cường là làm
sâu sắc thêm quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn
diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam -
Trung Quốc trong thế kỷ XXI, và sẽ có ảnh hưởng
tích cực và sâu sắc đối với ḥa b́nh, ổn
định, hợp tác và phát triển của khu vực và
thế giới". Chỉ qua câu này cũng đủ
thấy là Nông Đức Mạnh bắt buộc phải sang
triều kiến. V́ nếu không th́ không có hợp tác toàn
diện, không có ḥa b́nh và ổn định... Thông thường,
trong quan hệ ngoại giao quốc tế, sự hợp tác
giữa các quốc gia cũng có giới hạn trên
một số lănh vực và mức độ hợp tác.
Hợp tác toàn diện nói trong bản tuyên bố chung này
chỉ có nghĩa là một sự lệ thuộc toàn
diện của cộng sản Hà Nội vào Trung Quốc.
Như để nhắc nhở những cam kết của
tập đoàn lănh đạo cộng sản Hà Nội
từ năm 1991 đến nay, điểm số ba của
Tuyên Bố Chung đă đề cập đến
những Thông Cáo Chung năm 1991, 1992, 1994, 1995 và các Tuyên
Bố Chung năm 1999 và năm 2000. Việc kư Hiệp
Ước Biên Giới Trên Đất Liền, Hiệp
Định Phân Định Vịnh Bắc Việt cũng
được nhắc nhở và nhấn mạnh. Liên quan
đến đường hướng của Việt Nam,
tài liệu này viết "Hai Đảng, hai nước
đă trao đổi rộng răi và sâu sắc về
những kinh nghiệm đổi mới, cải cách mở
cửa, xây dựng Đảng và quản lư Nhà nước,
lư luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xă
hội...". Đây rơ ràng là một cuộc lên lớp
của quan thầy dạy dỗ đàn em, thuộc hạ.
Điểm thứ 4, có câu viết "Hai bên quyết tâm
kiên tŕ phương châm chỉ đạo 16 chữ "láng
giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn
định lâu dài, hướng tới tương lai",
quán triệt và thực hiện một cách toàn diện
mục tiêu và nhiệm vụ đă được nêu rơ
trong bản Tuyên Bố Chung về hợp tác toàn diện
trong thế kỷ mới giữa hai nước...".
Sự "hợp tác toàn diện" có nghĩa là
lệ thuộc mà Hà Nội đă thỏa thuận với
Bắc Kinh có thể kéo dài hàng trăm năm.
Điểm 5 có chỗ viết "hai bên nhất trí
tiếp tục duy tŕ truyền thống tốt đẹp
giao lưu cấp cao giữa hai đảng, hai nước".
Câu này cho thấy, Trung Quốc chỉ cần một nhóm lănh
đạo chóp bu là đủ rồi. Họ bất kể
đến bên dưới và đến nhân dân.
Bản Tuyên Bố đă dành nguyên đoạn 7 để
nói về vấn đề biên giới. Những câu đáng
chú ư như sau: "Hai bên nhất trí cho rằng,
việc kư Hiệp Định Biên Giới Trên Đất
Liền, Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc
Bộ và Hiệp Định Hợp Tác Nghề Cá ở
Vịnh Bắc Bộ là sự kiện có ư nghĩa
trọng đại, góp phần tích cực vào việc thúc
đẩy phát triển hơn nữa quan hệ láng
giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa
hai nước và sự ổn định của khu
vực". Hoặc "Hai bên đều không tiến hành
các hành động làm phức tạp thêm hoặc mở
rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối
với những bất đồng nảy sinh..."
Tóm lại qua bản Tuyên Bố Chung, người ta có
thể thấy được mối bang giao giữa
cộng sản Hà Nội và Bắc Kinh là một mối
bang giao chư hầu, không hơn, không kém.
Kết Luận
Chuyến đi Bắc Kinh của Nông Đức Mạnh
vừa qua đă nói lên cái thế chư hầu của
CSVN đối với Trung Quốc. V́ ngoan cố đeo
đuổi cái chủ nghĩa lỗi thời để bám
lấy chính quyền mà tập đoàn lănh đạo
cộng sản Hà Nội đă cam tâm quỳ lụy
Bắc Kinh, họ không ngần ngại cắt nhượng
đất đai tổ tiên dày công tạo dựng và
bảo vệ cho Trung Quốc. Họ không ngần ngại dâng
hiến vùng biển rộng lớn trên Vịnh Bắc
Việt. Họ đă công nhận chủ quyền Trung
Quốc trên quần đảo Hoàng Sa và đă không có
nỗ lực giành lại Trường Sa đă bị Trung
Quốc cướp đoạt bằng bạo lực quân
sự. Sau khi Trung Cộng đă dùng vũ lực thôn tính
các hải đảo của Việt Nam, họ đă
trắng trợn đưa ra điều khoản số 7
của bản Tuyên Bố Chung, không được sử
dụng vũ lực. Thế mà Nông Đức Mạnh và
tập đoàn lănh đạo cộng sản không dám hé
mồm đ̣i hỏi. Trước Nông Đức Mạnh,
đảng đổ cho Lê Khả Phiêu đă nhượng
bộ Trung Quốc. Nhưng theo dơi chuyến đi của Nông
Đức Mạnh vừa qua, người ta có thể
khẳng định là toàn bộ tập đoàn lănh đạo
và chính quyền Cộng Sản Hà Nội đều có trách
nhiệm v́ ở những vị thế cao nhất trong nước
mà đă không dám bảo vệ chủ quyền và sự
toàn vẹn lănh thổ. Trái lại, tập đoàn này c̣n
cắt đất dâng biển cho ngoại bang.
Hành động này quả là hành động bán nước
cầu vinh, bán nước để bám lấy ngôi vị,
bám lấy chính quyền. Tập đoàn này quả có
tội đối với lịch sử và đối
với nhân dân Việt Nam. Họ không xứng đáng lănh
đạo đất nước nữa.
Trần Trọng Nghĩa