Diễn tiến Vụ Kháng án về chất Da cam/Dioxin của Việt Nam

(Status of the Vietnamese’s Appeal at the Second Circuit Court of Appeals)

Như quư thính giả đă biết, vào tháng 1 năm 2004, Hội Nạn nhân chất Da cam/Dioxin Việt Nam (HNNCDC/DVN) và một số công dân Việt Nam đă nộp đơn khiếu nại đến ṭa án liên bang Brooklyn, New York để đ̣i các công ty hóa chất Hoa Kỳ, đứng đầu là Dow Chemical và Monsanto, bồi thường thiệt hại v́ thương tật cá nhân và ô nhiễm môi trường mà phía Việt Nam cáo buộc là do ảnh hưởng của chất da cam, được quân đội Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Ḥa sử dụng trong cuộc chiến Việt Nam.  Đơn khiếu nại nầy đă bị Chánh án Jack Weinstein hoàn toàn bác bỏ v́ không đủ cơ sở pháp lư vào tháng 3 năm 2005.  Phía Việt Nam không đồng ư với phán quyết của ṭa Brooklyn, tiến hành thủ tục kháng án lên ṭa Kháng án Khu vực 2 (Second Circuit Court of Appeals), và c̣n tuyên bố là sẽ theo đuổi vụ kiện cho đến cùng.  Để t́m hiểu thêm chi tiết về diễn tiến của vụ kháng án về chất Da cam/dioxin của HNNCDC/DVN, chúng tôi có trao đổi với Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang, một chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.  Ông thường xuyên theo dơi những diễn tiến trên khía cạnh luật pháp và khoa học của vụ kiện tụng này.

  Hỏi: Trước hết, KS vui ḷng cho quư thính giả của đài Á Châu Tự Do biết vụ kháng án về chất Da cam/dioxin của Việt Nam ở ṭa Kháng án Khu vực 2/New York đă đi đến đâu rồi?

  Đáp: Theo quy định của ṭa Kháng án, thủ tục kháng án phải trải qua hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là tiền tranh luận (pre-argument) nhằm tạo cơ hội cho hai bên giàn xếp với nhau, nếu không thể dàn xếp, ṭa sẽ tiến hành giai đoạn phân xử để đi đến phán quyết sau cùng.  Cho đến giờ phút nầy, vụ kháng án của Việt Nam vẫn c̣n nằm trong giai đoạn thứ nhất.  Hầu hết văn bản tóm tắt và những văn kiện cần thiết đă được nộp theo đúng lịch tŕnh mà ṭa đă quy định, thí dụ như văn bản tóm tắt (brief) của phía Việt Nam được nộp ngày 30/9/2005, văn bản tóm tắt của các công ty hóa chất được nộp ngày 7/2/2006, và văn bản đối đáp sau cùng (final response) của phía Việt Nam được nộp ngày 16/3/2006.  Hiện nay, ṭa đang chuẩn bị cho phiên tiền tranh luận được dự trù vào cuối tháng nầy.

  Hỏi: Theo một bản tin của Thông Tấn Xă Việt Nam được trích đăng trên tờ Nhân Dân ngày 10/4/2006, phiên tiền tranh luận đă được hoăn lại cho đến cuối tháng 5 v́ các công ty hóa chất chưa chuẩn bị đủ hồ sơ cần thiết.  Có đúng như vậy không, thưa KS?

  Đáp: Theo tin tức mà tôi có được th́ ṭa Kháng án vẫn tiến hành phiên tiền tranh luận trong tuần lễ 17/4/2006 như Chánh án Peter Hall đă ấn định, thay v́ tuần lễ 24/4/2006 như được đề nghị mới đây.  Tuy nhiên, lịch tŕnh nầy có lẽ sẽ được hoăn lại v́ văn bản đối đáp sau cùng của Việt Nam lên trên 18.400 chữ, nhiều hơn con số 14.000 chữ mà ṭa đă quy định từ trước.  Phía Việt Nam biết rơ việc vi phạm quy định nầy và yêu cầu ṭa chấp thuận văn bản, nhưng ṭa Kháng án đă ra phán quyết từ chối vào ngày 4/4/2006 và đă tống đạt phán quyết nầy đến phía Việt Nam ngày hôm sau, tức ngày 5/4/2006.  Một lư do khác khiến cho phiên tiền tranh luận được hoăn lại có lẽ do phán quyết ngày 31/3/2006 của ṭa Kháng án, qua đó, 16 vụ kháng án của cựu chiến binh Hoa Kỳ phải được tranh luận cùng lúc (in tandem) với vụ kháng án của phía Việt Nam.  Cho đến giờ phút nầy, ṭa Kháng án vẫn chưa đưa ra lịch tŕnh mới cho phiên tiền tranh luận.

Hỏi: Quan điểm của phía Việt Nam trong vụ kháng án nầy như thế nào?

Đáp: Phía Việt Nam nhấn mạnh rằng vụ khiếu nại của họ không tập chú vào việc sử dụng thuốc diệt cỏ (herbicides) trong chiến tranh và cũng không tập chú vào việc sử dụng vũ khí có hơi độc (chemical gas weapon) hoặc hơi độc (poison gas), mà tập chú vào việc sử dụng chất độc (use of a poison).  Họ lập luận như thế nầy, tôi xin tạm dịch nguyên văn phần kết luận của văn bản tóm tắt, “Trái với những giả thuyết sai sự thật của ṭa Brooklyn, thiệt hại do sự hiện diện của dioxin trong chất Da cam, cũng như các chất độc độc hại (toxin poisons) trong các loại thuốc diệt cỏ khác do bị đơn sản xuất và được dùng trong cuộc chiến Việt Nam, không phải là vô t́nh (unintened) hoặc song hành (collateral).  Bị đơn biết dioxin là một chất độc.  Họ biết số lượng dioxin trong sản phẩm của họ vượt quá mức an toàn.  Họ biết sản phẩm của họ sẽ được dùng ở Việt Nam.  Và có lẽ quan trọng nhất, họ biết làm thế nào để loại những chất độc nầy ra khỏi sản phẩm của họ nhưng họ không làm chỉ v́ tư lợi.  Chính hành động nầy đă khiến nguyên đơn kiện các bị đơn, và chính hành đông nầyđă vi phạm luật pháp quốc tế qua đạo luật ATS [Thiệt hại của Ngoại kiều]. V́ các lư do vừa nêu, và v́ công lư đ̣i hỏi phải bồi thường những nạn nhân cố t́nh (intended victims) của chiến dịch răi chất độc nầy tương tự như những người đă điều hành (administered) các chất độc, ṭa Kháng án phải lật ngược phán quyết của ṭa Brooklyn và cho phép tiến hành vụ khiếu nại (claims) của nguyên đơn,”  hết lời dẫn.

Hỏi: Phía Việt Nam dựa trên cơ sở pháp lư nào để yêu cầu ṭa Kháng án Khu vực 2 cứu xét phán quyết của ṭa liên bang Brooklyn, thưa KS?

Đáp: Vụ kháng án của phía Việt Nam dựa trên ba điểm chính như sau.  Thứ nhứt, phía Việt Nam cho rằng ṭa Brooklyn đă sai khi bác bỏ khiếu nại của họ về việc vi phạm luật pháp quốc tế với lư do là việc phun thuốc khai quang (defoliants), được biết có chứa chất độc gây độc hại cho con người với số lượng được biết có thể tránh được qua quy tŕnh sản xuất sẳn có và phổ biến, th́ không vi phạm thông lệ ngăn cấm việc sử dụng chất độc trong chiến tranh và cũng không vi phạm việc gây thương tích và tàn phá không cần thiết cho mục tiêu quân sự.  Thứ nh́, phía Việt Nam cho rằng ṭa Brooklyn đă sai khi bác bỏ khiếu nại của họ vê việc vi phạm luật tiểu bang New York của nguyên đơn với lư do nhà thầu của chính phủ (government contractor defense) mà không đếm xỉa ǵ đến bằng chứng cho phép kết luận rằng bị đơn biết nhiều hơn chánh phủ về sự nguy hiểm của dioxin hiện diện trong chất Da cam và rằng quy tŕnh sản xuất làm gia tăng chất dioxin th́ không được ghi trong bất cứ điều kiện sách (specifications) hay đơn đặt hàng (procurement contract) của chánh phủ gởi cho bị đơn.  Sau cùng, phía Việt Nam cho rằng ṭa Brooklyn đă sai khi bác bỏ khiếu nại của họ về việc lên án việc sử dụng chất Dam cam trong cuộc chiến, bồi thường thiệt hại, và tẩy xóa ô nhiễm môi trường với lư do vi phạm chủ quyền Việt Nam mà không đếm xỉa đến bằng chứng hổ trợ cho một phán quyết công bằng và vô tư.

Hỏi: Theo tin tức báo chí trong nước th́ trưởng đoàn luật sư của phía Việt Nam là ông Jonathan Moore, khi tham dự Hội nghị quốc tế nạn nhân chất da cam/dioxin được tổ chức ở Hà Nội vào hai ngày 28-29/3/2006, đă cho biết rằng họ đă t́m ra nhiều điểm mới rất thuyết phục để bảo vệ nạn nhân Việt Nam và phía bị đơn đang “đuối về luật lẫn thực tế” nên cố gắng làm cho vấn đề chính trở nên lẫn lộn.  KS có nhận xét ǵ về lời tuyên bố của luật sư Moore?

Đáp: Dạ thưa, nếu đó quả thật là lời tuyên bố của luật sư Moore, th́ có lẽ ông Moore thiếu thành thật, lừa bịp các nạn nhân Việt Nam (trong đó có những người có trách nhiệm điều hành vụ kiện ở trong nước), hoặc cả hai.  Chẳng hạn như vấn đề vi phạm luật quốc tế, không có một điểm nào mới được ghi trong văn bản tóm tắt nộp ở ṭa Kháng án, mà ngược lại, c̣n bỏ đi nhiều điểm được ghi trong đơn khiếu nại nộp ở ṭa Brooklyn, mà điển h́nh nhất là Quy ước Genève 1925.  Phía Việt Nam không c̣n cáo buộc vi phạm tội ác chiến tranh (war crimes) và diệt chủng (genocide) mà chỉ cáo buộc việc sử dụng thuốc khai quang trong chiến tranh Việt Nam là vi phạm luật quốc tế về việc sử dụng chất độc, nhưng lại không chứng minh được thuốc khai quang là chất độc; do đó, họ mới “lẫn lộn” thuốc khai quang với dioxin và “lẫn lộn” chánh phủ và quân đội Hoa Kỳ với các công ty hóa chất, ít ra, trên phương diện trách nhiệm.  Về vấn đề vi phạm luật tiểu bang, phía Việt Nam đă chấp nhận dùng các bằng chứng của cựu chiến binh Hoa Kỳ trong các vụ kiện từ thập niên 1980; do đó, chẳng những không có điểm nào mới mà c̣n gián tiếp “chịu thua” v́ tất cả các vụ kiện của cựu chiến binh đều đă bị ṭa bác bỏ.

Hỏi: Theo KS, phía Việt Nam có khả năng thắng kiện ở ṭa Kháng án không?

Đáp: Theo nhận định của luật sư Moore, phía Việt Nam sẽ thắng nếu ṭa Kháng án có được một không khí công bằng và trung thực; nhưng ông không biết trước được kết quả, v́ theo lời ông, một trong ba chánh án được chỉ định cho vụ kháng án là anh họ của Tổng thống Bush.  Theo tôi, đó chỉ là ngôn từ của một luật sư kiện tụng (trial laywer) để quy trách sự thất bại không thể tránh được của ông lên người khác; v́ hơn ai hết, ông biết rằng ông không có đủ lư lẽ và bằng chứng để biện minh cho những cáo buộc mà ông và các luật sư cộng sự đă đưa ra.

Trong phiên tranh luận ở ṭa Brooklyn ngày 28/2/2005, luật sư phía Việt Nam đă “đuối về luật lẫn thực tế” và không thể “thuyết phục” được Chánh án Weinstein.  Cuối cùng, luật sư Moore đă phải dùng đến “xảo thuật” chánh trị để van xin ṭa, mà tôi xin tạm dịch nguyên văn như sau, “Thưa ngài Chánh án, tôi xin kết thúc phần tranh luận của tôi bằng cách phát biểu rằng, trong vụ nầy, nguyên đơn Việt Nam đứng trước ṭa chỉ để đ̣i hỏi công lư mà thôi.  Họ đứng trước ṭa ngày hôm nay, cũng như các cựu chiến binh Hoa Kỳ trước đây nhiều năm, để yêu cầu ṭa cho họ cái quyền được minh chứng cho thế giới và cho ṭa thấy rằng họ là nạn nhân của việc làm sai trái, rằng họ đang thống khổ cùng cực, và rằng họ phải được bồi thường cho những tổn thương đó.  Mục đích của vụ kiện nầy chỉ để vạch trần những hậu quả do hành động của bị đơn gây ra.  Nhiều năm trôi qua và cách xa mảnh đất ấy hàng trăm ngàn dặm, nhiều người Mỹ có thể đă quên những ǵ đă xảy ra ở Việt Nam.  Nhưng, những người đă từng trải qua và sống trong cái chiến dịch tấn công hóa học nầy vẫn chưa quên, và nhiều thế hệ sinh ra ở Việt Nam ngày nay, hậu duệ và con cái của những người bị tiếp nhiễm, tiếp tục mang trong người nỗi đau do chất Da cam gây ra...  Trước khi dứt lời, tôi xin đại diện cho người Việt Nam và nguyên đơn, khẩn cầu ṭa hăy can đảm để làm nên lịch sử và làm sáng tỏ cái nguyên tắc căn bản của nền dân chủ pháp trị mà Chủ tịch Tối cao Pháp viện Marshall đă khẳng định trong vụ kiện giữa Margaret và Madison trước đây, đó là ‘Khi nhân quyền bị xâm phạm th́ phải có sửa sai,’”  hết lời dẫn.  Nhưng theo Chánh án Weinstein, đó chỉ là những cáo buộc vô căn cứ (allegations with no proof).