CHIẾN KHU AN THÀNH
(Quá Tŕnh Thành Lập và Hoạt Động)
Lời Mở Đầu:
Hôm gặp lại nhau, sau một thời gian dài xa cách, anh
Sáu Trọng Nhơn có gợi ư cho tôi viết lại quá
tŕnh thành lập và hoạt động của chiến khu
An Thành, một trong những chiến khu của Đảng
đă gầy dựng trong thời gian hoạt động
chống Cộng suốt nửa thế kỷ quạ Tôi do
dự không muốn viết, v́ nghĩ ḿnh không thể nào
làm tṛn nhiệm vụ, khi qua một thời gian quá lâu
với một trí nhớ kém cơi, nên viện dẫn lư do
sức khỏe để từ chối bằng cách
“lờ luôn”. Nhưng trong kỳ họp Tổ gần
đây, anh Trần Quân có đề cập lại vấn
đề và khích lệ tôi lần nữa với sự tán
thành của anh em, nên tôi mạo muội cố moi trí
nhớ được bao nhiêu hay bấy nhiêu để làm
một công việc mà tôi cho là “để đền
đáp lại phần nào sự hy sinh mạng sống
của những đồng chí thân yêu tại chiến khu
An Thành”.
Nhân danh là một trong những sáng lập viên và cũng là
một chứng nhân, tôi xin viết lại một cách
hết sức trung thực từ ngày được thành
lập cho tới ngày bị bắt buộc phải
giải tán một chứng tích chống Cộng của
Đại Việt Quốc Dân Đảng ở miền
Nam, nơi c̣n tồn tại một nghĩa trang chứa
đựng hài cốt của hơn năm mươi đảng
viên chiến sĩ đă hy sinh cho lư tưởng Dân
Tộc Sinh Tồn do Đảng Trưởng Trương
Tử Anh chủ xướng. Đối với tôi đây
là một “Hoàng Hoa Cương” của chúng tạ
TÓM LƯỢC BỐI CẢNH LỊCH SỬ:
Trong bối cảnh lịch sử tôi chỉ tóm lược
những sự kiện có liên quan đến vận
mệnh đất nước trong thời kỳ tiền
thế chiến thứ 2, c̣n những chi tiết khác xin
chỉ đề cập sơ lược hoặc không
đề cập đến để tránh dài ḍng.
Trận thế chiến thứ 2 được lấy
cột mốc từ năm 1939 khi ở Aâu Châu hai chánh
phủ Anh Pháp cùng tuyên chiến với Đức tới
khi Nhật đầu hàng năm 1945, chớ thực sự
th́ ở Á Châu cuộc chiến giữa Trung Hoa và Nhật
đă xảy ra từ năm 1937.
A - T́nh H́nh Thế Giới:
I - Á Châu:
a - Nhật:
Sau khi nắm được chính quyền, chánh phủ quân
phiệt do Tướng Tojo (Đông Điều) cầm
đầu có tham vọng bành trướng lănh thổ
về phía Nam, với chiêu bài Đại Đông Á nên
dựng lên sự kiện Lư Cầu Kiều để gây
hấn với Trung Hoa và để che đậy giă tâm
của ḿnh trong tiến tŕnh thôn tính toàn cơi Đông Nam Á
trong đó có Đông Dương thuộc Pháp.
b - Trung Hoa:
Trong cuộc chiến tranh kháng Nhật, chánh phủ Trung Hoa
Dân Quốc (Thống Chế Tưởng Giới Thạch)
yếu thế phải lần lượt rút khỏi Đông
Tam Tỉnh (Măn Châu), Thượng Hải và sau cùng thiên
đô từ Nam Kinh về Trùng Khánh hầu tạo thế
ỷ dốc với quân Anh ở Miến Điện.
II - Âu Châu:
a - Đức:
Sau khi kư hiệp ước “Bất Tương Xâm”
với Liên Bang Sô Viết (Staline), Đức Quốc Xă
(Hitler) xua quân tấn công chiếm nửa nước Ba Lan.
Sau đó, với lực lượg hùng hậu, họ thôn
tính toàn cơi Tây Aâu trong suốt một thời gian ngắn
(trừ Anh Quốc nhờ eo biển Manche nên c̣n tồn
tại, nhưng thủ đô Luân Đôn bị “bom bay”
V1, V2 của Đức tàn phá nặng nề). Tiếp theo,
Đức quay sang phía Đông chiếm hầu hết các nước
trong vùng Balean và xé luôn hiệp ước “bất tương
xâm” bằng cách tấn công Liên Sô.
b - Pháp:
Đối kháng với chiến lủy Siegfried của Đức,
chiến lủy Maginot là niềm kỳ vọng của Pháp
trong việc pḥng thủ. Tuy nhiên, Đức không tấn công
trực diện mà dùng chiến thuật đánh bọc
hậu làm Pháp không kịp trở tay phải tuyên bố
“bỏ ngỏ” thủ đô Paris (đầu hàng) và
phải chịu cắt nửa phần lănh thổ về phía
Bắc cho Hitler. Phần c̣n lại ở phía Nam do Thống
Chế Petain cai trị với tư cách Quốc Trưởng
lấy thành phố Vichy làm thủ phủ. Tướng De
Gaulle lưu vong sang Algerie thành lập “chánh phủ Kháng
Chiến” chiến đấu trong hàng ngũ Đồng
Minh cho đến ngày toàn thắng.
III - Vai Tṛ Của Mỹ Trong Cuộc Chiến:
Sau trận Đệ Nhất thế chiến, Hoa Kỳ có
xu hướng đứng biệt lập với cựu
lục địa nên giữ thái độ bàng quan
giữa các phe lâm chiến mặc dù Thủ Tướng
Anh (Churchill) nhiều lần lên tiếng cầu cứụ
Măi đến khi không quân Nhật tấn công tiêu diệt
gần hết hạm đội ở Pearl Harbor (Trân Châu
Cảng) tháng 12 năm 1941, Mỹ mới chịu tham
chiến bên cạnh Đồng Minh ở các mặt
trận Aâu Châu (đánh Đức, Ư) và Á Châu (đánh
Nhật).
Năm 1944, ở Châu Aâu, Đức đầu hàng Đồng
Minh vô điều kiện, nhưng ở Á Châu (Mặt
Trận Thái B́nh Dương) chiến tranh vẫn c̣n
quyết liệt. Thế chiến thứ Hai chỉ thực
sự kết liễu sau khi Mỹ ném hai quả bom nguyên
tử xuống đất Nhật vào các ngày 6-8-45 ở
Hiroshima (Quảng Đảo), và ngày 9-8-45 ở Nagasaki (Trường
Kỳ).
Ngày 15-8-45 Nhật Hoàng Hirohito lên đài phát thanh Tokyo tuyên
bố đầu hàng Đồng Minh vô điều
kiện và . . chỉ xin cho được “tại vị”.
Để kết thúc chiến tranh vốn gây ra quá
nhiều đau khổ mất mát cho nhân loại, Tổng
Thống Roosewelt chấp nhận lời yêu cầu của
Nhật Hoàng và chỉ định Đại Tướng
Mac Arthur thay mặt Đồng Minh tiếp nhận sự
đầu hàng của Nhật. Cuộc lễ được
tổ chức trên một chiến hạm của Hoa Kỳ
đậu ngoài khơi vịnh Đông Kinh (Tokyo).
B - T́nh H́nh Đông Dương:
I - Thủ đoạn của Nhật:
Sau khi chiếm xong miền duyên hải Trung Hoa từ
Bắc chí Nam, để dọn đường cho cuộc
trường chinh vùng Đông Nam Á, Nhựt đă dùng áp
lực buộc Pháp cho đỗ bộ vào Đông Dương
để dùng nơi đây làm bàn đạp tấn công
quân Anh ở phía Nam (Tân Gia Ba, Mă Lai, Miến Điện),
quân Ḥa Lan (Nam Dương Quần Đảo), quân Bồ
Đào Nha (Đông Timor) v. v. . . . và đặc biệt là
nhắm vào miền Hoa Nam của Trung Hoa ở phía Bắc
Việt Nam nhằm cắt đứt đường
tiếp tế của Đồng Minh cho chánh phủ Trùng
Khánh từ Miến Điện. Mặc dù được
nhà cầm quyền Pháp thỏa măn mọi yêu sách, nhưng
rốt cuộc vào đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945,
Nhựt vẫn trở mặt đảo chánh Pháp để
nắm quyền cai trị toàn cơi Đông Dương.
II - Thủ đoạn của Pháp:
Sau khi đầu hàng, Quốc Trưởng Petain bổ
nhiệm Toàn Quyền Decoux thay thế toàn quyền Catroux (theo
De Gaulle) đă bỏ nhiệm sở đào thoát sang Tân Gia
Ba (Singapore).
Trước viễn ảnh một cuộc nổi dậy có
thể xảy ra của dân chúng, chánh quyền thuộc
địa một mặt tập trung các phần tử
khả nghi và dùng quân đội đàn áp đẩm máu
những địa phương có phong trào chống đối,
mặt khác nhằm mục đích phân hóa người
bản xứ, chúng c̣n phát động phong trào thể thao
một cách rầm rộ dưới sự điều
khiển của Đại tá Ducuroy điển h́nh là
tổ chức cuộc đua xe đạp ṿng quanh Đông
Dương. Cụ thể là trong cuộc đua này, người
miền Nam ủng hộ Phượng Hoàng Lê Thành Các, c̣n
người miền Bắc th́ cỗ vũ cho Hùm Xám Vũ
Văn Thân.
C - T́nh H́nh Trong Nước:
I - Chánh Phủ Trần Trọng Kim:
Sau ngày đảo chánh cướp được chánh
quyền từ tay người Pháp, Nhựt đặt người
vào các chức vụ chỉ huy từ hành chánh đến
quân sự, kể cả các xí nghiệp của người
Pháp làm chủ. Toàn quyền Nhựt hứa triệt để
ủng hộ Hoàng Đế Bảo Đại trong
việc trị nước an dân. Sau đó, để
chứng tỏ thiện chí của ḿnh Toàn Quyền
Nhựt tham khảo với Hoàng Đế Bảo Đại
để chọn người đứng ra lập nội
các. Người được chọn là học giă
Trần Trọng Kim. Hoàng Đế Bảo Đại
tấn phong chánh phủ Trần Trọng Kim tại Thành
Nội (Huế) có sự hiện diện của Nam Phương
Hoàng Hậụ
Đây là chính phủ đầu tiên mặc âu phục
thay v́ quốc phục trong lễ tấn phong. Nhân viên chánh
phủ gồm toàn thành phần trí thức khoa bảng có
danh vọng trong xă hội đương thờị
Vậy mà về sau ḷi ra mấy trự Cộng Sản
gộc như luật sư Trịnh Đ́nh Thảo
chẳng hạn. Đây là loại trí thức ăn
phải bả cộng sản mà ta gọi là trí thức .
. ngu hỏi ngủ.
II - Thành Lập Mặt Trận Việt Minh:
Để tránh áp lực của Nhựt tại vùng biên
giới Hoa Việt, nhằm cắt đứt đường
tiếp tế từ Miến Điện, chánh phủ Trùng
Khánh quyết định hậu thuẩn cho những
phần tử cách mạng Việt Nam lưu vong tại
Trung Hoa thành lập lực lượng vũ trang chống
Nhựt. Vào tháng 5 năm 1941, tại Quảng Tây dưới
sự bảo trợ của Tướng Trương Phát
Khuê, một hội nghị được triệu tập
gồm những thành phần cách mạng Việt Nam do
Nguyễn Aùi Quốc lănh đạọ Hội nghị thành
lập một tổ chức lấy tên là:Mặt Trận
Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, gọi
tắt là: Mặt Trận Việt Minh. Đầu năm
1943, Nguyễn Aùi Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh và
mang tên này cho đến chết.
III - Hoàng Đế Bảo Đại Thoái Vị:
Vào ngày 22 tháng 8 năm 1945, tại kinh đô Huế, Hoàng
Đế Bảo Đại làm lễ thoái vị và
tiếp nhận danh hiệu “Công Dân Thứ Nhứt”
của Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa trứơc các
đại diện “Uûy Ban Dân Tộc Giải Phóng Lâm
Thời” gồm Nguyễn Lương Bằng, Trần Huy
Liệu và Cù Huy Cận. Trong dịp nầy ấn kiếm
quốc bảo của triều Nguyễn cũng bị
cộng sản tịch thụ
IV - Hồ Chí Minh Đọc Bản Tuyên Ngôn Độc
Lập:
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại vườn hoa Ba Đ́nh (Hà
Nội) Hồ Chí Minh đọc “Bản Tuyên Ngôn Độc
Lập” và tuyên bố nuớc Việt Nam Dân Chủ
Cộng Ḥa hoàn toàn tự chủ, đồng thời ra
mắt Tân Chính Phủ Lâm Thời do Hồ Chí Minh làm
Chủ Tịch với Cựu Hoàng Bảo Đại làm
Cố Vấn Chính Phủ được gọi là Cố
Vấn Vĩnh Thụỵ
V - Đồng Minh Giải Giới Quân Nhựt Ở Đông
Dương:
Sau chiến tranh, quân Anh (Lord Mounbatten) được Đồng
Minh giao nhiệm vụ giải giới quân Nhựt từ vĩ
tuyến 16 trở vào, quân Trung Hoa (tướng Lư Hán)
giải giới quân Nhựt từ vĩ tuyến 16 trở
rạ
Vốn biết rơ bản chất “Cộng Sản Đệ
Tam Quốc Tế” của Việt Minh trá h́nh dưới
lớp vơ quốc gia dân tộc, nên Đồng Minh
muốn mượn tay quân Pháp để tiêu diệt chúng
bằng cách sắp xếp cho quân Pháp theo chân quân Anh
trở lại Đông Dương. Quân Pháp do Tướng
Leclerc chỉ huy đă nhanh chóng hoàn tất việc
chiếm đóng và thiết lập hệ thống chánh
quyền từ trung ương đến hạ tầng cơ
sở.
VI - Nam Bộ Kháng Chiến:
Trước sức mạnh hùng hậu của quân Pháp, Uûy
Ban Kháng Chiến Hành Chánh Nam Bộ do Phạm Văn
Bạch làm Chủ Tịch, đă rút lui vào bưng
biền như Đồng Tháp Mười, rừng U Minh,
rừng Sát cùng với lực lượng vơ trang của
chúng. Trong số nầy ngoài thành phần cộng sản c̣n
có lực lượng các giáo phái Cao Đài, Ḥa Hảo, B́nh
Xuyên và rất nhiều chiến sĩ quốc giạ
Trong số những chiến sĩ quốc gia nầy, có
một đồng chí của chúng ta là anh Bùi Hữu
Phiệt đă xây dựng nên một lực lượng vơ
trang đáng kể được mệnh danh là Bộ
Đội An Điền. Sau Bộ Đội nầy đổi
là Chi Đội 25 khi hợp tác với B́nh Xuyên. Chi Đội
nầy về sau bị Tướng Nguyễn B́nh, Tư
Lệnh Miền bao vây giải giớị Một số
lớn đảng viên của ta trong đó có anh Bùi
Hữu Phiệt bị Việt Minh Cộng Sản hạ sát.
Để kỷ niệm một đồng chí đă hy
sinh v́ Tổ Quốc, Đảng đă lấy tên anh đặt
cho Khu Bộ Quân Nhân tức là Khu Bộ Bùi Hữu
Phiệt (trực thuộc Trung Ương Đảng
Bộ).
Với âm mưu độc quyền chính trị để
thực hiện chủ nghiă Cộng Sản trên đất
nước Việt Nam, tập đoàn Cộng Sản Nam
Bộ lúc bấy giờ do tên đồ tể Lê Duẫn
cầm đầu về chính trị (Xứ Uûy Nam Bộ)
và tên độc nhăn Nguyễn B́nh, Tư Lệnh Lực Lượng
Vũ Trang Nam Bộ, đă phóng tay khủng bố triệt
để hầu tiêu diệt các lực lượng vũ
trang đối lập như Cao Đài, Ḥa Hảo, B́nh Xuyên,
Đại Việt nên các lực lượng nầy
lần lượt rời bỏ bưng biền trở
về thành hợp tác với Pháp.
VII - Nam Kỳ Quốc:
Để đánh lừa dư luận trên thế giới
và che đậy bộ mặt thực dân của ḿnh năm
1946 người Pháp đă dựng lên ở miền Nam
một Chính Phủ Tự Trị lấy tên là Cộng Ḥa
Nam Kỳ ma người ta gọi là Nam Kỳ Quốc do bác
sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ Tướng. Khẩu
hiệu “Xứ Nam Kỳ của người Nam Kỳ”
được treo la liệt khắp nơị Họ xách
động phong trào “chống Bắc Kỳ” bằng cách
tổ chức những đoàn thanh niên chuyên đi t́m người
Bắc để khủng bố (cho sợ để
“chuồn” về Bắc). Để biết ai là người
Bắc họ bảo nói câu “Tân Sơn Nhứt”. Người
Bắc mặc dù ở trong Nam lâu cũng khó nói ba
tiếng nầy đúng giọng miền Nam nhứt là nói
nhanh.
Sau cái chết đột ngột của bác sĩ
Nguyễn Văn Thinh mà dư luận cho rằng ông bị
người Pháp giết bằng cách thắt cổ
bằng giây điện, Bác sĩ Lê Văn Hoạch (Cao
Đài) được đề bạt vào chức vụ
Thủ Tướng.
VIII - Người Quốc Gia Bị Đẩy Vào Thế
Phải Hợp Tác Với Pháp:
Trước khi quyết định trở về thành, người
quốc gia thừa hiểu rằng một khi rời bỏ
bưng biền về hợp tác với Pháp th́ sẽ
bị cộng sản tuyên truyền bôi lọ bằng cách
gán cho hai tiếng “Việt Gian”, nhưng đứng trước
bao cái chết của những nhân vật nổi tiếng
từ Bắc chí Nam th́ ta c̣n câu nệ ǵ mà không t́m cách
tự cứu ḿnh để “lưu thân hữu dụng”,
c̣n v́ “tự ái xằng” để t́m cái chết
một cách ngu xuẩn hay saỏ Ta chẳng từng
biết cac1 ông Trần văn Thạch, Tạ Thu Thâu,
Hồ Vĩnh Kư ,v .v . . . cũng v́ khác chính kiến
với chúng mà bị thủ tiêu đó saỏ Ngoài quư
vị vừa nêu trên c̣n biết bao người khác
bị chúng sát hại với chính sách “thà giết
lầm hơn tha lầm” của chúng. Phải nói tội
lỗi của chúng là loại tội lỗi “Trời không
dung, Đất không tha” (mà chắc những “người
tù cải tạo” đă từng nghe chúng nó gán ghép cho ḿnh),
th́ tại sao ta lại không biết sống cho hợp ư
Trời mà tiêu diệt chúng để trả thù cho
những người đă khuất? Với ư nghỉ
đó, người quốc gia dứt khoát ly khai với
Cộng Sản mà không có một tí mặc cảm nàọ
Con chó bị đẩy vào đường cùng c̣n có
phản ứng để tự vệ huống chi chúng ta là
con ngườỉ Do đó sau nầy những cảnh
“giết qua giết lại” giữa quốc gia và
cộng sản đă xảy ra trên mọi miền đất
nước suốt 30 năm dài, gây ra không biết bao nhiêu
là thảm cảnh. Ngoài ra với chính sách “tiêu thổ
kháng chiến” học được của quan thầy
Liên Sô, chúng đă làm cho hàng triệu gia đ́nh gặp
phải cảnh “sinh vô gia cư, tử vô địa táng”.
Thật là “trúc rừng không ghi hết tội”
vậỵ
IX - Về Thành:
Sau khi quyết định ly khai với Việt Minh, các
đoàn thể bắt đầu liên lạc với người
Pháp qua trung gian của chính phủ Nam Kỳ. Ḥa Hảo
với số tín đồ đông đảo ở
miền Tây, Tướng Trần Văn Soái (tự Năm
Lửa) đống bản doanh ở Cái Vồn (Cần Thơ),
Tướng Lâm Thành Nguyên (tự Hai Ngoán) đống
bản doanh ở Cái Dầu (Châu Đốc), Tướng
Lê Quang Vinh (tự Ba Cụt) đống bản doanh ở
Thốt Nốt (Long Xuyên) và Tướng Nguyễn Giác
Ngộ đặt bản doanh ở Cao Lănh (Kiến Phong),
Cao Đài với số tín đồ tập trung đông
đảo ở Tây Ninh nên đóng bản doanh ở Long
Hoa (gần Ṭa Thánh), Thiên Chúa Giáo của Đại tá
Leroy (một người Việt lai Pháp) được
trọn quyền thao túng toàn tỉnh Bến Tre, B́nh Xuyên
với Tướng Lê Văn Viễn đặt bản
doanh ở Chánh Hưng (Chợ Lớn), Đại Việt
đặt trụ sở Trung Ương ở Tân Định
(Sài G̣n).
Việt Minh rất cay cú việc nầy nên đải phát
thanh Nam Bộ của chúng đă lấy hai chữ đầu
(tên các đoàn thể) như Ḥa Hảo chúng đọc là
Hốt Hết (H.H), Cao Đài chúng đọc là Chặt
Đầu (C.Đ), Thiên Chúa chúng đọc là Uống Máu
Dân Chúng (UMDC) là chữ viết tắt của Union Militaire
de defeuse des Chretientes (Liên Hiệp Quân Sự Bảo Vệ
Giáo Dân), Đại Việt chúng đọc là Đít
Vịt (Đ.V). Riêng B́nh Xuyên chúng chỉ thóa mạ đích
danh Bảy Viễn, chớ không đá động đến
danh từ B́nh Xuyên v́ sợ đụng chạm đến
anh em chiến sĩ B́nh Xuyên đang chiến đấu
trong lực lượng Mười Trí (Hùynh văn Trí).
Lúc đầu các lực lượng nầy, người
Pháp gọi là lực lượng bổ túc (forces suppletives)
chỉ đặt trọng tâm vào việc giữ an ninh
trong khu vực trách nhiệm; lần lần v́ nhu cầu
gia tăng quân số, mua sắm vũ khí, nên lấn sang lănh
vực kinh tế như thâu thuế lợi tức của
các thương nhân qua lại ngang đồn bót bằng
xe cộ, tàu thuyền. Riêng B́nh Xuyên th́ đường
đường chính chính mở các ṣng bạc như Kim
Chung ở Cầu Oâng Lănh và Đại Thế Giới
ở Chợ Lớn để thu lợi một cách công
khai hợp pháp.
Tướng Lê Văn Viễn nhờ có quyền và có
lợi nên được một số nhân sĩ như
Trần Văn Aân, Trần Thiện Vàng, Hồ Hữu Tường
kể cả Bà Phạm Văn Bạch ủng hộ.
X - Cựu Hoàng Bảo Đại Xuất Ngoại:
Tháng 3 năm 1946, nhờ sự đồng ư của Hoa
Kỳ, một phi cơ được gữi đến Hà
Nội đón Cựu Hoàng Bảo Đại và phái đoàn
rời Việt Nam đi Trùng Khánh. Nơi đây Cựu Hoàng
Bảo Đại được Tổng Thống Tưởng
Giới Thạch đón tiếp và lưu lại đây 3
tháng. Vào tháng 6 năm 1946, chánh phủ Anh cho phép Cựu Hoàng
chánh thức định cư tại Hồng Kông.
Được biết vào giờ chót, Hồ Chí Minh đổi
ư muốn giử Cựu Hoàng ở lại nhưng không
kịp, v́ phi cơ đă cất cánh. Cựu Hoàng thoát
khỏi tay Cộng Sản, đă làm cho Hồ Chí Minh vô cùng
bực tức nhưng đành trơ mắt ếch nh́n
theo chiếc phi cơ càng lúc càng lên cao trước
mắt bọn anh ninh của chúng.
XI - Thành Lập Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp:
Sau khi Cựu Hoàng Bảo Đại định cư
tại Hồng Kông và có tin chánh phủ Pháp muốn
trực tiếp thương thuyết với Cựu Hoàng
th́ các lănh tụ, các chính khách ở khắp nơi
từ trong nước đến hải ngoại nườm
nượp bay tới Hồng Kông yết kiến Cựu Hoàng
để thỉnh cầu Ngài đứng ra lănh đạo
quốc gia thương thuyết với Pháp. Cựu Hoàng
đă đồng ư trên nguyên tắc. Tuy nhiên, c̣n phải
phát động rầm rộ ở trong nước một
phong trào tích cực ủng hộ để Cựu Hoàng
được danh chánh ngôn thuận nói chuyện với
Pháp.
Thế là ở miền Nam thành h́nh một tổ chức
tên là Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp c̣n gọi là
Mặt Trận Cao - Thiên - Đại - Ḥa - B́nh, nghĩa là
mặt trận gồm các đoàn thể: Cao Đài, Thiên
Chúa, Đại Việt, Ḥa Hảo và B́nh Xuyên.
Cũng nằm trong kế hoạch nầy Đảng đă
mở một văn pḥng tại nhà Bác sĩ Trần Đ́nh
Quế đặt dưới sự điều khiển
anh Sáu (Kỷ sư Phan Thông Thảo). Bác sĩ Quế có
Pháp tịch nên lấy tên là Robert Couey vốn là Cha
của Trung Tá Trần Đ́nh Lan. Tại đây chúng ta
đă rải truyền đơn “ủng hộ Cựu Hoàng
Bảo Đại” dưới danh nghiă của Mặt
Trận Quốc Gia Liên Hiệp.(V́ việc răi truyền
đơn mà Thu và tôi bị ra ṭa về tội dùng
bảng số xe giả và bị phạt vạ. Riêng tôi
khi đi xin bản sao lục án ṭa để nộp vào
hồ sơ thi vào Trường Vơ Bị bị Ṭa Đô
Chính từ chối không chịu cấp và Anh Tư (Bác sĩ
Nguyễn Tôn Hoàn) nhân danh Bộ Trưởng Bộ Thanh Niên
& Thể Thao phải can thiệp, với câu “Anh
Thừa có công chớ không có tội”.
D - Nguyên Nhân Thúc Đẩy Việc Lập Chiến Khu:
Đầu năm 1947, nhận thấy chánh phủ Nam
Kỳ của thủ tướng Lê Văn Hoạch không c̣n
thích hợp với t́nh thế nữa nên Pháp buộc ḷng
phải thay đổi chánh sách bằng cách đổi tên
lại là Chánh Phủ Nam Phần Việt Nam với ông
Nguyễn Văn Xuân làm Thủ Tướng, kế đó là
ông Trần Văn Hữụ
Nhằm phá giải pháp Bảo Đại nên Việt Minh
gia tăng hoạt động khủng bố ở nội
thành Sài G̣n. Nhiều nhân vật quan trọng bị
Việt Minh sát hại trong đó có ông Văn Văn
Của Đô Trưởng Sài G̣n, Đại tá người
Pháp bị cắt cổ ở đường Tự Do (Catinat
cũ), liệng lựu đạn vào rạp hát Thành Xương
làm cho một số nghệ sĩ bị thương vong v.
v. . .
Thấy văn pḥng đặt tại nhà bác sĩ Trần
Đ́nhQuế an ninh không được bảo đảm,
Anh Tư quyết định dời lại tư dinh
của cựu thủ tướng Lê Văn Hoạch.
Tại đây Việt và tôi được Đảng
giao điều hành công việc văn pḥng kể cả
việc chuẩn bị tài liệu cho anh Tư đi
Hồng Kông hợp với Cựu Hoàng Bảo Đạị
Để thích ứng với t́nh thế lúc bấy
giờ Đảng chủ trương xây dựng một
lực lượng vơ trang để bảo đảm an
ninh cơ sở và hậu thuẩn cho hoạt động
chính trị, v́ lúc bấy giờ ta chỉ mới có
tổ chức ngoại vi là Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn
do đồng chí Đỗ văn Năng làm thủ lĩnh.
Nói đến việc xây dựng lực lượng vơ
trang th́ trước tiên phải có đất dụng vơ.
Mà muốn có đất dụng vơ phải có sự đồng
ư của người Pháp. Trên nguyên tắc Đảng
cố tránh tiếp xúc với người Pháp về
việc nầỵ Quyết định sau cùng là thương
lượng với Pháp qua trung gian của thủ tướng
Trần văn Hữụ Anh Chỉnh và tôi đến
gặp Thủ tướng Trần Văn Hữu, tại văn
pḥng ở đường Gia Long.
Sau khi được sự đồng ư của Pháp, Đảng
chỉ định anh Kiệt (Nguyễn Hưng Khải)
thay mặt Đảng tiếp xúc với nhà cầm
quyền quân sự Pháp để thương lượng
việc đóng quân.
I - Những khó khăn buổi đầu:
a - Chiến Khu B́nh Qưới Tây:
Chiến Khu B́nh Quới Tây nằm trong lănh thổ tỉnh
Gia Định. Đây là chiến khu thứ hai ở
miền Nam của Đảng do anh Kiệt (Nguyễn Hưng
Khải) và anh Thanh (Nguyễn Ngọc Lựu) chịu trac1h
nhiệm sau chiến khu An Điền. Ít lâu sau ngày thành
lập anh Khải đă mốc nối được
với một cán bộ Cao Đài c̣n bị kẹt ở
trong chiến khu, đem một đại đội ra
hợp tác. Họ được đưa về đồn
trú tại một trại lá nằm trong xă B́nh Quới Tâỵ
Chánh phủ biệt phái cho chiến khu một chiếc Land
Rower có tài xế để chuyên chở thực phẩm
tiếp tế cho đơn vị. Anh Thanh được
giao phụ trách công tác nầỵ Độ một
tuần sau, một bửa sáng sau khi mua thực phẩm xong,
anh Thanh ghé lại văn pḥng kêu tôi cùng đi vào
chiến khụ Khi vào đến nơi thấy doanh
trại trống không, không có một bóng người, chúng
tôi trở về báo cáọ Sau được một
đội viên trốn thoát về thuật lại là vào
buổi chiều hôm trước, anh em ra sân chơi bóng
chuyền, số c̣n lại ngồi xem. Th́nh ĺnh năm
đội viên vào trại lấy súng ra uy hiếp bắt
mọi người phải đi theọ Anh đội viên
nầy lợi dụng đêm tối trốn về
được. Th́ ra trong số chiến sĩ Cao Đài
nầy có một số cán bộ Việt Minh trà trộn vào
làm nội tuyến mà ta không biết
b - Chiến Khu Tân Quí Tây:
Sau thất bại nầy anh Khải quyết định
về miền Tây lập chiến khụ Sơ khởi anh
tham khảo ư kiến của Đảng Bộ Tỉnh Sa
Đéc th́ được anh em mớm ư là nên lập
ở xă Tân Quí Tây (?) xă nầy ở gần thị xă Sa
Đéc (độ hai cây số) và rất an ninh nhờ có
hai đơn vị bạn (một của Cao Đài,
một của Ḥa Hảo) trú đóng.
Sau khi liên lạc và thỏa thuận với Pháp anh trở
về Sài G̣n báo cáo t́nh h́nh và xúc tiến ngay công
việc. Tôi được Đảng chỉ định
đi cùng với anh Khải và anh Thanh trong nhiệm vụ
nầỵ Thế là chúng tôi hướng dẫn một
số anh em trong Thành bộ Sài G̣n Chợ Lớn khoảng
20 người lên đường trực chỉ miền Tâỵ
Trong thời gian chúng tôi c̣n ở Sài G̣n, th́ ở Sa Đéc
anh em đă mốc nối được một số cán
bộ đang hoạt động trong hàng ngũ Việt
Minh như anh Trần Thiện Tứ là Trường Ban Công
Tác Thành, anh Tư Đen là Phó Ban và một số đội
viên. Khi chúng tôi tới địa điểm chỉ định
được vài tuần th́ anh Sáu Long (Nghĩa) dẫn các
anh em mới đến giới thiệụ Thế là sĩ
số chúng ta lên được một trung đội
với một số súng ngắn (rouleau) và lựu đạn
loại tấn công (OF).
Không biết v́ lư do nào mà người Pháp giao cho ta khu
vực nằm giữa vùng kiểm soát của hai giaó phái
Ḥa Hảo và Cao Đài, v́ thế mà trong thời gian
gần hai tháng ở đây sự hoạt động
của ta chỉ hạn chế trong việc giáo dục chính
trị cho chiến sĩ mà thôị Tôi đảm
nhiệm vai tṛ nầỵ(Chánh Trị Viên)
II - Chiến Khu An Thành Thành H́nh:
Để tránh đụng chạm với đơn vị
bạn, anh Khải đi Vĩnh Long tiếp xúc với
Tỉnh Đảng Bộ ở đây nhờ t́m địa
điểm mớị Anh em giới thiệu cù lao An Thành
lúc bấy giờ đang nằm trong tay của Việt Minh.
Tuy lực lượng chúng không mạnh nhưng nhờ
địa thế thuận lợi mà chúng có thể
giữ vững được, mặc dù cù lao nầy
chỉ cách tỉnh lỵ Vĩnh Long một con sông với
diện tích khoảng năm cây số vuông. Có thể nơi
đây là một địa điểm lư tưởng nên
anh Khải tiếp xúc ngay với Pháp để “xin đứt”
cù lao Anh Thành gồm hai xă Anh Thành và B́nh Lương.
Người Pháp bấy lâu rất bực v́ cái ung
nhọt nầy, nay có người t́nh nguyện gánh vác
thay th́ c̣n mong ǵ hơn nữa, nên đồng ư ngaỵ
Chẳng những thế họ c̣n hứa cung cấp vũ
khí cho ta theo đề nghị của anh Khảị Khi có
được địa điểm mới rồi anh
Khải trở về Sa Đéc đưa anh em xuống Vĩnh
Long để bắt đầu một khúc quanh
mớị
Tôi cần nói rơ điều nầy là sở dĩ người
Pháp đồng ư hợp tác với ta v́ các lư do sau đây:
- Một là ta được sự giới thiệu
của thủ tướng Trần Văn Hữụ
- Hai là ta có thể giúp họ một tay để giữ
an ninh một khu vực trọng yếụ
- Ba là ta chống Cộng triệt để.
Tuy nhiên, đối với ta họ lại thi hành chánh sách
“Tin khả tin, pḥng khả pḥng” v́ họ biết ta qua
danh xưng Nationaliste (khắc tinh của Thực Dân),
họ biết ta chỉ lợi dụng thế lực
của họ chớ không thực tâm hợp tác như các
đoàn thể khác và sau nữa là họ biết trong hàng
ngũ chiến sĩ của ta có nhiều Việt Minh
trở về từ chiến khụ V́ thế khi cấp phát
vũ khí họ chỉ cấp cho ta loại súng trường
“cổ lỗ xỉ” (khi bắn xong phải dùng cây thông
ṇng thụt vỏ đạn ra). Lựu đạn khi ném
th́ trái nổ trái không, c̣n đạn th́ họ đếm
từng viên. Mỗi lần lănh đạn phải đem
theo vơ để “một đổi một”
Tuy biết rơ tâm địa của họ, nhưng chúng ta
đành chấpp nhận giải pháp “lợi dụng
lẩn nhau để đôi bên cùng có lợi”. Dù sao
xấu mà có c̣n hơn là không có ǵ.
a - Đặt Tổng Hành Dinh:
Để đổ bộ được an toàn, Phân khu Vĩnh
Long cho một đại đội lính Bắc Phi yễm
trợ nên ta không gặp trở ngại nào lúc chân ướt
chấn ráo đặt chân lên cuộc đất mới
nầỵ Chổ chúng tôi đóng Tổng Hành Dinh là
một cái đ́nh thờ Thành Hoàng xă An Thành. Đây là
một cái đ́nh khá rộng răi nằm trên “mũi tàu”
của hai nhánh sông gặp nhau nên rất tiện việc
pḥng thủ với ba mặt là sông. Danh từ Tổng Hành
Dinh là chúng ta cường điệu chớ thực
sự chỉ là một cái đồn không hơn không kém
với một trung đội trú pḥng. (Tánh anh Khải
vốn thích cái ǵ cũng vĩ đại).
b - Tổ Chức Nội Bộ:
Một Bộ Chỉ Huy được thành lập với
anh Khải làm Chỉ Huy Trưởng có nhiệm vụ liên
lạc với Trung Ương Đảng và chánh quyền
địa phương. Anh Thanh làm Trưởng Ban Quản
Trị lo việc nuôi quân. Tôi được “phong” làm
Thanh Tra Quân Sự phụ trách kỷ luật nội bộ
kiêm chánh trị viên. Anh Tứ làm với Anh Tư Đen
phụ tá, phụ trách khâu tác chiến. Sau nầy anh Sáu
Long đảm trách chức vụ Chỉ Huy Quân Sự
với anh Tứ làm Phó. Anh Tư Đen làm Trưởng
Ban Công Tác ở đây có nghĩa là tạp dịch.
Về sau công việc càng ngày càng nhiều, anh Khải
đề nghị Trung Ương bổ sung thêm cán bộ.
Trong số từ Sài G̣n xuống có anh Chĩnh (Hữu)
được giao nhiệm vụ Chỉ Huy Phó, anh
Trần Văn Tự phụ trách về thông tin, văn hóa,
anh Hà Phát Toán phụ trách về y tế, anh Lư Minh Khánh
phụ trách về an ninh trật tự mà anh Khải dùng
danh từ Hiến Binh. Từ Sa Đéc xuống có các anh Sáu
Long (Nghiă), anh Ba Tửu, anh Thưởng và một số
anh em khác như anh Ngữ, anh Pḥ, anh Măo, anh Hảo, anh Hà
Phú Kính, v v . . . .
Tỉnh Bộ Vĩnh Long bổ sung thêm anh Ba Kư, anh Hai Trương
và anh Bửu vốn là những anh em ở địa phương.
Riêng anh Hai Trương khi rời bỏ hàng ngủ
Việt Minh có đem về một khẩu súng lục 6.35.
Về sau anh thi đậu vào trường Vơ Bị Đà
Lạt, và sau một tháng luyện tập đă bị An
Ninh Quân Đội loại khỏi quân trường v́
đă có thời gian hoạt động trong hàng ngủ
Việt Minh mặc dù sau nầy anh đă trở về
với chúng tạ
c - Xúc Tiến Công Tác Theo Thứ Tự Ưu Tiên:
Tùy theo t́nh h́nh và khả năng, ta đă áp dụng các
biện pháp sau đây:
1 - An Ninh: Để bảo đảm an ninh khu vực đóng
quân, ta huy động thanh niên địa phương
tiếp tay thiết lập hệ thống bố pḥng như
đào giao thông hào, làm hàng rào có hệ thống ánh sáng
đốt bằng đèn bảo, ban bố t́nh trạng
giới nghiêm ban đêm, tổ chức đội tuần
tra lưu động thủy bộ để kiểm soát
các trục giao thông và tổ chức một hệ
thống an ninh t́nh báọ
2 - Chánh Trị: T́m hiểu qua sự giới thiệu
của anh em sở tại chủ yếu là những nhà tai
mắt, những thân hào nhân sĩ có tinh thần quốc
gia để kéo họ về hợp tác. Trong số
những nhân vật nầy có thầy giáo Phan Hoàng Tâm là
bố vợ của đồng chí Tám di sau nầỵ Cũng
v́ sự quan hệ nầy mà thầy giáo Tâm đă bị
Việt Minh thủ tiêu mất xác, thật đáng thương.
3 - Xă Hội:
- Dân vận: Vận động với chánh quyền
tỉnh Vĩnh Long đem vải về bán cho dân với gía
chính thức mà theo dư luận th́ đây là một
việc làm rất đắc nhân tâm.
- Thông Tin: mua một cái Radio và báo chí để phổ
biến tin tức hàng ngàỵ
- Văn Hóa: Tổ chức các lớp B́nh Dân Học
Vụ để xóa nạn mù chữ trong giới thanh niên
nam nữ.
- Văn Nghệ: Tổ chức các buổi tŕnh diễn văn
nghệ vào các dịp lễ truyền thống. Trong
những dịp nầy anh em cán bộ và chiến sĩ
phối hợp với thanh niên nam nữ địa phương
cùng tŕnh diễn. Có lần ta c̣n mời cả chánh
quyền quân sự tỉnh Vĩnh Long qua dự khán và
rất được khen ngợị
- Thể Thao: Tổ chức đội bóng tṛn đấu
giao hữu giữa chiến sĩ và thanh niên địa phương.
Trong sinh hoạt nầy có lần chúng ta mời hội Sa
Đéc xuống đá trong đó có cựu cầu thủ
quốc tế Cao Hoài Cuối vốn là cựu cầu
thủ Hội Tuyển Nam Kỳ. Trong trận đấu
nầy, tuy đội Sa Đéc trội hơn về
thể lực và chơi thiếu tinh thần thể thao mà
vẫn thuạ Ngoài bóng tṛn ta c̣n có bộ môn bóng bàn và
cờ tướng cho anh em giải trí.
- Y Tế: Thành lập một Ban Y Tế để chửa
trị cho anh em chiến sĩ và dân chúng trong những trường
hợp khẩn cấp.
4 - Quản Trị:
- Công Tác: Phụ trách các công việc từ đốn cây,
chẻ củi đến việc chất chà bắt cá và
các việc linh tinh khác có nghĩa như “tạp
dịch” của quân đội chánh quị
- Hỏa Thực: Hằng ngày bơi xuồng từ An Thành
qua chợ Vĩnh Long mua thức ăn tươi đem
về cho các chị em vợ chiến sĩ phụ trách
nấu ăn.
5 - Hành Chánh: Chọn các đồng chí thông thạo công
việc giao cho phụ trách các công việc sau đây:
- Tổ chức lại hệ thống chánh quyền từ
xă đến ấp.
- Kiểm tra dân số
- Kiểm soát đất công điền.
d - Đào Tạo Cán Bộ Quân Sự:
Như đă tŕnh bày ở trên, v́ t́nh h́nh đ̣i hỏi
mà Đảng đă đi tới quyết định thành
lập chiến khu với mục đích chính yếu là
đào tạo cán bộ quân sự. Trong kế hoạch
nầy Trung Ương đă đưa về chiến khu
An Thành các cán bộ quân sự sau đây:
1 - Đồng chí Trần Văn Mạnh, nguyên sĩ quan
trong quân đội Pháp. (Sau khi măn khóa huấn luyện,
đồng chí Mạnh trở về Sài G̣n được
chánh phủ bổ nhiệm làm Trưởng Ty Cảnh Sát
Quốc Gia tỉnh Khánh Ḥa (Nha Trang). Trong một cuộc va
chạm giữa nhân viên Công An thuộc quyền với
binh sĩ Hải Quân, đồng chí đi dàn xếp, nhưng
vừa tới nơi th́ bị một người lính
hải quân bắn chết.)
2 - Đồng chí Thanh (quê Quảng Ngăi) (về sau là sĩ
quan Quân Đội Quốc Gia Việt Nam dứơi
thời Quốc Trưởng Bảo Đại và trở
thành em rễ của nguyên Thiếu Tướng Đặng
Thanh Liêm. Đồng chí phục vụ tại Tiểu
Đoàn 11 (11e BVN) đóng tại Châu Đốc với
chức vụ Đại Đội Trưởng. Trong
cuộc hành quân của Tiểu Đoàn 11 tại Thất Sơn
đồng chí đă anh dũng hy sinh).
3 - Đồng chí Tú (tức Tú râu) xuất thân từ trường
Vơ Bị Lục Quân Yên Báỵ (Sau khi măn khóa huấn
luyện đồng chí ở lại chiến khu An Thành cho
tới ngày giải tán và cùng về Sài G̣n với tất
cả anh em. Đă lâu không gặp không biết hiện
giờ đồng chí ở đâủ).
V́ không có đủ súng nên ta đă chế ra những
khẩu súng gỗ để cho chiến sĩ thực
tập. Với phương tiện eo hẹp, ta chỉ
học những ǵ ḿnh có như về vũ khí th́
tập ném lựu đạn, tập tháo ráp súng lục
(rouleau, P.38), tiểu liên Sten và súng trường (Nhựt).
Đặc biệt khi thaó ráp vũ khí, anh Mạnh bắt
phải lấy khăn bịt mắtt lại (như làm
trong đêm tối). Về chiến thuật th́ học cá
nhân tác chiến, chiến thuật tiểu đội lên
tới đại đội và sau cùng là kỷ thuật
chiến đấu trong thành phố. Ngày măn khóa học viên
cũng phải qua kỳ sát hạch về lư thuyết và
thực hành ngoài thực địạ
e - Những Lần Đỗ Máu:
Từ ngày thành lập đến ngày giải tán chúng ta
bị tất cả năm lần đổ máu tại
chiến khu An Thành mà tôi xin tường thuật với tư
cách một chứng nhân:
- 1 - Cái chết của hai anh Lê Văn Phát và Nguyễn văn
Phó: Đây là những giọt máu đầu tiên của
những đảng viên Đại Việt đổ ra
tại mảnh đất nầỵ Trong một lần hành
quân tuần tiểu ở xă B́nh Lương, cách Tổng
Hành Dinh chừng hai cây số, hai đồng chí Lê Văn
Phát và Nguyễn Văn Phó lọt vào ổ phục kích
của Việt Minh. Đồng Chí Phát bị bắn
chết tại trận, trong khi đồng chí Phó bị
địch bắt đi mất tích. Sau nghe lại qua
lời dân địa phương th́ đồng chí Phó
bị Việt Minh giết bằng cách neo đá vào ḿnh
thả xuống sông Cổ Chiêng mất xác.
- 2 - Bị Việt Cộng phục kích lần thứ hai:
Trong một cuộc tuần tiểu đêm, anh Pḥ Tiều
Đội Trưởng dẫn một tiểu đội
xuất phát từ Tổng Hành Dinh qua ấp An Thới
bọc lên đầu Cồn trở về. Trời tối
đen như mực lại mưa lâm râm. Chúng tôi di
chuyển một hàng dọc trên con đường nhỏ
cập theo bờ sông. Anh Khánh đi đầu (t́nh báo) vơ
trang súng trường, anh Pḥ (Hải) đi kế với
khẩu P.38, tôi đi thứ ba với khẩu tiểu liên
Sten cách khoảng nhau vừa đủ thấỵ Th́nh ĺnh
có tiếng súng tiểu liên từ phía trước. V́ quá
bất ngờ tôi không kịp phản ứng chỉ đứng
nh́n những tia lửa từ họng súng địch
tủa rạ Sau khi nhận định được t́nh
thế hiễm nguy tôi mới chùi xuống mé đường
ẩn núp. V́ đi theó đội h́nh hàng dọc nên ta
chỉ kịp tản ra hai bên để tránh bị
bắn xâu táo, chớ không thể bắn trả v́ sợ
bắn nhằm anh em.đi phía trước. Nhưng nhờ
sự im lặng nầy mà Việt Cộng hoang mang không
biết ta ở đâu nên không dám tiến, về sau
một hồi nổ súng chúng rút lui về phía An
Thớị Về phần tôi sau khi ngưng tiếng súng tôi
đng chờ xem động tịnh như thế nào th́
chợt nghe có tiếng động ở phía trước.
Mặc dầu không biết là địch hay bạn tôi
vẫn lên tiếng hỏi mật khẩu: “Phải anh
Thanh đó không?” Có tiếng trả lời “Niên đây”.
Tôi biết đây là bạn v́ mật khẩu của ta
đêm đó là: Hỏi Thanh, đáp Niên”. Không do dự
tôi tiến về hướng có tiếng nói, th́ ra là anh
Khánh. Tôi hỏi: “Anh có sao không?” Khánh trả lời:
“Tôi bị găy tay rồi anh Tư ơi!”. Tôi lại
gỡ cây súng từ tay anh Khánh mang vào vai mặt và d́u anh
Khánh đi về. Vừa qua khỏi một cây cầu th́
có tiếng hô “Thanh” tôi trả lời “Niên”. Th́ ra
anh em ở nhà nghe tiếng súng nổ biết là chúng tôi
bị địch tấn công nên kéo lên tiếp ứng. Toán
nầy do anh Trần Thiện Tứ chỉ huỵ Tôi
bảo anh Tứ cắt một người đi t́m
xuồng chở anh Khánh về. Số c̣n lại yễm
trợ cho anh em rút lui c̣n tôi một ḿnh đi bộ
về trước. Sau đó anh em lục tục về
đều đủ. Khi kiểm điểm lại vũ
khí th́ anh Muôn báo cáo là trong khi chạy, anh đă đánh
rơi mất khẩu súng của anh. C̣n anh Khánh khi về
tới đ́nh, nhân viên ban y tế cởi áo anh ra săn sóc
vết thương th́ ngoài cánh tay gảy anh c̣n bị
một viên đạn Thompson bắn xuyên qua ngực từ
trước ra sau mà anh không biết. Có lẽ v́ viên đạn
bắn quá gần nên qua “ngọt”. Sau một thời
gian điều trị ở bệnh viện anh b́nh
phục trở về với một cánh tay xụị
Từ đó anh có biệt danh là Khánh “què”.
Sau khi chiến khu An Thành giải thể, anh Khánh ở
lại An Thành lấy vợ sanh được ba trai
một gáị Hiện nay các con anh đều có giađ́nh.
Riêng vợ chồng anh th́ đă qua đờị
- 3 - Cái chết của anh Nguyễn Hưng Khải:
Vào một đêm tháng chạp, tôi đang viết bài cho
số báo Xuân (báo tường) trong pḥng th́ th́nh ĺnh có
một đội viên (trong phiên gác) bước vào xin
mồi thuốc. Mồi xong hắn đi ra trong khi đó tôi
lại tiếp tục viết. V́ ngồi lâu mơi cổ tôi
ngẫng đầu lên làm một động tác cho
bớt mơị Khi vừa ngước mặt lên th́ tôi
thấy tên đội viên mồi thuốc vừa rồi
đang chong súng (khẩu tiểu liên Sten của Anh
quốc) hướng vào tôị Theo phản xạ tự
nhiên tôi la to hai tiếng “Việt Minh! Việt Minh!”.
Vừa la tôi vừa đạp vào bàn cho ghế bật
ngửa xuống đất. Cùng lúc một tràn tiểu liên
nổ vang. May mắn tôi không bị thương v́
loạt đạn nầỵ Sau loạt đạn
hắn xách súng chạy ra phía trước đ́nh nơi
anh Khải ngủ. Lúc đó anh Sáu Long đang ngủ trong
nóp kế chỗ tôi ngồi khoảng hai thước
về bên trái dưới đất, nghe tiếng la và
tiếng súng nổ vội tung nóp chạy đuổi theo tên
nội tuyến th́ vừa kịp thấy hắn đang
chạy ra đồng, sau khi đă ria một loạt đạn
vào người anh Khảị Mặc dầu đêm
tối và hơi xa, anh Long vẫn bắn theo hắn với
khẩu súng trường của anh. Sau phát súng của anh
Sáu Long th́ tên Việt Minh nội tuyến chạy mất
dạng. Sáng lại anh em ra quầng kiếm dấu vết
th́ chỉ lượm được cái chargeur (c̣n vài viên
đạn), bị đạn xuyên một lỗ, c̣n trong
pḥng dưới chiếc ghế chỗ tôi ngồi hồi
hôm, một trái lựu đạn loại OF đă bật
muỗn an toàn nhưng không nổ. Nếu trái lựu đạn
nầy nổ th́ không biết anh Sáu Long và tôi có c̣n nguyên
vẹn đến giờ nầy hay không? Măi đến bây
giờ tôi cũng không biết tên nội tuyến đă
bỏ trái lựu đạn vào lúc nàỏ
Về phần anh Khải, có lẽ khi nghe tiếng súng anh
rời chỗ ngủ ra xem việc ǵ xảy ra th́ vừa
đúng lúc tên nội tuyến chạy tới nên hắn
đă ria một loạt đạn làm anh bị thương
với ba viên đạn vào hai chân. Sau khi băng bó các
vết thương thấy máu không c̣n chảy anh em
quyết định sẽ tản thương vào sáng hôm
sau để tránh nguy hiểm v́ sợ ngoại viện
của Việt Minh. Trong khi chờ sáng mặc dầu các
vết thương hành hạ, anh vẫn bảo tôi
lấy quyển tiểu thuyết (Pháp Văn) mà anh đang
đọc giở, đọc cho anh nghẹ
Sáng hôm sau tôi qua liên lạc với Pḥng Nh́ của Pháp
xin phương tiện tản thương và đích thân
anh Hữu đă đưa anh Khải vào bệnh viện.
Nằm viện được ba bốn hôm th́ anh Hữu
về cho hay anh Khải đă qua đờị Anh chết
một ḿnh trong bệnh viện không có lấy một người
thân bên cạnh. Đám tang anh được tổ
chức khá tươm tất với sự góp mặt
của anh em Cán Bộ và Chiến Sĩ khu An Thành, kể
cả vị Tỉnh Trưởng đương nhiệm
đi đưa tiển. Anh đă được an táng
tại đất Thánh Tây của thị xă Vĩnh Long (mà
bây giờ đă bị Cộng Sản sang thành b́nh địa)
4 - Cái Chết Của Em Trần Văn Điển:
Em Trần Văn Điển là con của cố chiến sĩ
cách mạng Trần Văn Thạch và là em ruột của
đồng chí Trần Văn Tự. Vốn là một thanh
niên có ḍng máu cách mạng của cha anh, em Điển
mặc dù đang là một sinh viên đă từ Sài G̣n
xuống tham gia vào chiến khu An Thành.
Một đêm Việt Minh về tấn công chúng ta với
mục đích khuấy rốị Chúng từ phía bên kia
sông bắn vào phía hông Tổng Hành Dinh bằng những
khẩu súng trường. Nghe tiếng súng, tôi định
chạy ra giao thông hào, nhưng vừa tới cửa th́
thấy có người mặc áo trắng nằm sắp dưới
đất. Xem lại th́ ra em Điển đă chết v́
một viên đạn bắn trúng “hang cua” bên tráị
Có lẽ khi súng nổ, em Điển ngủ ở ngoài nên
chạy ra giao thông hào trước như những chiến
sĩ khác, nhưng v́ em mặc aó trắng nên đă vô t́nh
làm đích cho Việt Minh nhắm bắn. Thật tội
nghiệp, em chết khi chưa đầy 20 tuổi với
một tương lai đầy triển vọng.
Chúng tôi chôn em ở đất Thánh Tây thị xă Vĩnh
Long bên cạnh mộ phần anh Nguyễn Hưng
Khảị
- 5 - Lần Đổ Máu Sau Cùng:
Vào một đêm tối trời, tôi đang ngủ th́nh ĺnh
bị một tiếng lựu đạn nổ vang đánh
thức dậỵ Tiếp theo tiếng lựu đạn
là những tràn tiểu liên nổ như bắp rang.
Biết đây là cuộc đột kích của Việt
Minh vào Tổng Hành Dinh , theo phản xạ tôi lăn
xuống đất kéo theo vợ tôi lúc đó đang mang
thai ba tháng (đứa congái đầu ḷng của tôi sau
nầy). Chúng tôi chui xuống gầm giường để
tránh đạn. Trước t́nh thế nầy dù tôi có
muốn chạy ra cũng không được v́ lối thoát
duy nhứt đă bị chúng tràn ngập trong khi tôi
chỉ có trong tay một khẩu súng lục (rouleau) với
vơn vẹn sáu viên đạn. V́ thế mà tôi bị
bắt buộc phải ở lại để chứng
kiến từ đầu chí cuối sự hy sinh tập
thể của anh em mà tôi xin ghi lại sau đây:
a - Những ǵ tôi nghe được từ chỗ ẩn núp:
Xen vào giữa tiếng súng là tiếng nói tuần tự
dội vào tai tôị Trước hết là tiếng
lầm thầm niệm Phật của vợ tôi nằm bên
cạnh. Tiếng chân chạy rầm rập phía bên ngoài
cửa sổ pḥng ngủ của tôi mà tôi đoán là chúng
đang khuân chiến lợi phẩm như súng đạn,
thuốc men v v . . . .
Chợt có tiếng la: “Anh Hai bị đạn rồi”.
Th́ ra đây là một tên trong bọn chúng bị trúng
đạn (không biết do đâủ). Kế đó có
tiếng anh Nổi (một chiến sĩ của ta) nói:
“Tôi bị thương rồi mấy anh ơi!” (Không
biết nói với aỉ). Tiếng nói khác tiếp theo:
“Bắn” (Có lẽ là lệnh của tên Việt Minh
chỉ huy). Sau tiếng “bắn” là một tiếng súng
và tiếng “phịch” nặng nề. Đó là anh
Nổi bị chúng bắn chết mặc dù đă bị
thương do trái lựu đạn của chúng. Tiếp
theo đó có tiếng phụ nữ khóc ré lên và la
lớn: “Tôi bị thương rồi các đồng chí
ơi!”. Sau tiếng kêu có tiếng chơn chạy lại
pḥng bên cạnh pḥng tôi và tiếng h́ hục khiêng người
phụ nữ (đây là pḥng của anh Huỳnh và
tiếng kêu là tiếng vợ anh Huỳnh). Bây giờ tôi
mới biết chị là một cán bộ phụ nữ
được chúng bố trí đưa vào “làm vợ”
anh Huỳnh với công tác nội tuyến. (Về sau
nầy được biết chị ta vốn là vợ
của một tên cán bộ Việt Minh). Cuối cùng có
tiến hô: “Tiến”, và sau đó là sự im lặng hoàn
toàn. Th́ ra đây là mật khẩu rút lui của chúng.
Tuy biết chúng đă rút lui nhưng tôi vẫn c̣n e
ngại chưa dám ra th́ bỗng có tiếng đàn bà kêu
cách chỗ tôi nằm không xa: “Có ai đó lại dập
lửa dùm tôị Lửa cháy tới chỗ mẹ con tôi
rồi”. Đây là tiếng nói sau cùng.
b- Những ǵ tôi thấy khi ra ngoài:
Nghe tiếng kêu cứu, không trể một giây, tôi
chờm dậy chụp ngay chai nước trên bàn (mà tôi
để uống lúc ban đêm) chạy ra nơi có
tiếng kêụ Tôi thấy chị A (vợ một
chiến sĩ) cùng hai con (một đứa ba tuổi,
một đứa mới sanh) đang nằm trên một cái
sạp đă bén lửa mà chị không thể nào tránh
đi chỗ khác được v́ chị bị đạn
cả hai chân và ngực (đạn trổ qua vú). Tôi dùng
chai nước rưới tắt những chỗ bị
bắt lửa trong lúc đó có mảnh áo của thằng
bé ba tuổị Lạ một điều trong cảnh
lửa đạn như thế nầy mà cả hai đứa
bé đều nằm im thinh thít. Tôi tưởng chúng đă
chết v́ đạn tiểu liên của giặc nhưng
khi xem kỷ lại th́ không hề hấn ǵ.
Lúc bấy giờ, giữa cảnh thê lương ảm
đạm trong ánh lửa bập bùng tôi một ḿnh đi
kiểm soát từng chỗ ngủ của anh em xem ai c̣n ai
mất. Kế bên pḥng tôi là xác anh Huỳnh, kế bên là
xác anh Ngữ, phiá ngoài hàng ba là xác anh Nổi, ngay đầu
dăy sạp là xác anh Hảo và anh Tấn (chết gục
cạnh bàn cờ tướng đang chơi dở). Trên dăy
sạp, toàn bộ chiến sĩ đều bị bắn
chết khi c̣n nằm trong nóp đệm mà đa số
bị giặc chế dầu đốt cháy chín cả
thịt tạo nên một mùi khét lẹt bao quanh.
Tôi đi lần vào phiá trong, người tôi gặp đầu
tiên là anh Bảy Hoàng chết với tư thế nằm
ngữa với cặp kính cận c̣n đeo trên mắt.
Chỗ anh nằm không có một vết máụ Tôi
thắc mắc không rơ tại saỏ Chừng xem kỷ
lại th́ thấy có vết đạn xuyên vào bàng quang.
Xác anh em chiến sĩ nằm la liệt dưới đất
từ trong ra ngoàị Có anh bị bắn chết khi
vừa chạy ra ngoài được năm ba bước.
Dăy sạp đối diện không có ai chết hoặc
bị thương. Tôi độ là khi xung phong vào đ́nh
chúng thấy rơ chỗ anh em nằm ngủ nhờ ánh đèn
của hai anh đốc canh đang đánh cờ nên
bắn vào đó trước và cũng nhờ thế mà
anh em ngủ phía bên này có thi giờ rút chạỵ Tôi
mừng là ít ra phân nửa số anh em đă chạy thoát.
Sau khi quan sát hiện trường tôi chắc những anh
em chạy thoát chỉ lánh tạm đâu đây nên đánh
trống tập hợp. Tôi đánh liên tiếp 3 hồi
trống nhưng vẫn không thấy ai vàọ Có lẽ
họ nghỉ rằng một người của ta bị
Việt Minh bắt được và bị cưởng
bức làm việc nầy để lừa họ vào tṛng
chăng? Nghĩ vậy nên tôi gọi lớn”Tôi là Tư
Thiên đâỵ Anh em hăy vô đị Tụi nó rút
hết rồị” Sau khi nghe tôi lên tiếng , anh em
mới lần lượt vào tập hợp trong số có
các anh Chĩnh, Sáu Long, Tú, Thu, v. v. . . . Riêng anh Hồng
(Hạt) chỉ huy phó (người thay thế anh Hữu)
th́ nhờ ẩn trong cái hầm núp của ông Thủ
Từ mà thoát nạn.
Khi anh em đă vào đầy đủ, tôi hợp lực
với anh em tập trung các xác chết vào một nơi và
đích thân tôi kiểm điểm th́ ra anh em ta bị
thiệt mạng trong trận nầy là Năm Mươi Ba
người trong đó có một cháu bé (Chaú của anh Lê
Văn Phát).
c - Những việc làm sau đó: Anh em cán bộ được
phân công các việc sau đây:
1 - Chuyển những người bị thương đi
bệnh viện.
2 - Báo cáo sự việc lên chánh quyền địa phương.
3 - Tẩm liệm và an táng anh em tử sĩ. Trong số
nầy chỉ có các anh Bảy Hoàng, Ngữ, Hảo là
được tẩm liệm đàng hoàng và được
an táng một chỗ với anh Khải và em Điển. Các
chiến sĩ c̣n lại do tôi phụ trách, được
an táng tại mảnh đất phía sau đ́nh với
sự giúp đỡ (đào huyệt) của dân chúng
địa phương. Tội nghiệp mỗi người
chỉ được chôn với chiếc nóp ngủ
của ḿnh, nếu nóp chưa bị cháỵ C̣n những
người mà nóp bị cháy th́ đành đặt xác
thẳng vào ḷng huyệt. Biết rằng đối
xử với anh em như thế là quá tệ bạc nhưng
chúng ta c̣n làm thế nào hơn khi tài sản đă bị
cướp sạch, mà dẩu ó tiền chăng nữa ta
cũng t́m đâu ra một lúc trên năm mươi
cổ quan tài để “nhắc” cho anh em! V́ quá bối
rối tôi sơ ư không làm danh sách nên không nhớ tên
đầy đủ thật đáng tiếc. Sau nầy anh
Nghĩa có cho xây mộ anh em lại tử tế bằng
gạch. Nhưng theo ư tôi th́ c̣n thiếu nhiều v́ trước
khi đi Mỹ anh Tự và tôi chỉ thấy có trên 20 cái
thay v́ phải là 51 cái theo số liệụ
Ngay ngày hôm đó chánh quyền tỉnh Vĩnh Long cho
một trung đội lính Cộng Ḥa Vệ Binh Nam
Việt qua thay chúng ta đồn trú tại đ́nh c̣n ta
th́ dời qua Pḥng Dân Chúng ở qua đêm tại đâỵ
Sáng lại chúng ta rút về Thị Xă Vĩnh Long tạm
trú tại một rạp hát gần Cầu Lộ. Phần
vợ chồng tôi lại ngủ tại nhà anh Ba Kư. Sáng hôm
sau chúng ta được chánh quyền tỉnh Vĩnh Long
cấp cho một chiếc xe đ̣ lớn đưa anh em
về Sài G̣n.
Về tới Sài G̣n, Trung Ương để cho anh em
tuỳ ư ai muốn ră ngủ th́ ra đi, ai ở lại
th́ được xếp vào hàng ngũ “Thanh Niên Bảo
Quốc Đoàn” mà Trụ Sở Trung Ương đặt
tại rạp “ Đội Có” gần chợ Tân Định.
Riêng vợ chồng tôi được bố trí ở
một pḥng trên lầu cùng gia đ́nh đồng chí
Phạm Tháị
Trên đây là tất cả những ǵ tôi biết và
những ǵ tôi làm mà c̣n nhớ được về
Chiến Khu An Thành.
Phần Kết Thúc:
1 - Nhận định của người viết:
Để kết thúc hồi ức về “ Chiến Khu An
Thành” tôi có mấy lời nhận định sau đây:
- Thành thật mà nói, khi đứng ra lănh trọng trách
thiết lập chiến khu cho Đảng, đa số anh
em chúng ta chỉ được trang bị có một
bầu nhiệt huyết của tuổi thanh niên, cộng
thêm ḷng yêu nước của một đảng viên có lư
tưởng mà không quản ngại mọi gian lao nguy
hiểm để cố đạt cho kỳ được
mục đích tối hậu là hoàn thành nhiệm vụ
giao phó mà thôi, chớ ta chưa đủ kinh nghiệm và
khả năng đ̣i hỏi của một cấp chỉ
huy quân sự. Ngoại trừ những anh em Cán Bộ Quân
Sự của Đảng th́ không ở được lâu
mà nhứt là họ không có trách nhiệm trực tiếp
trong việc điều hành guồng máy chỉ huy
chiến khụ
Sau nầy khi trở thành sĩ quan được đào
tạo chính qui và trở thành cấp chỉ huy mà tôi
đă trải qua từ cấp Trung Đội đến
cấp Trung Đoàn và qua các khóa học từ trong đến
ngoài nước về Chỉ Huy và Tham Mưu, tôi nhớ
lại những việc làm của chúng ta trong thời gian
ở chiến khu An Thành trước kia thật vô cùng
khinh xuất đầy mạo hiểm. Riêng tôi, sau đó
rất ân hận v́ đă không có đủ khả năng
và kinh nghiệm để bảo toàn sanh mạng cho anh em
đă đặt hết tin tưởng vào chúng tạ
2 - Dân chúng An Thành đánh giá chúng ta như thế nàỏ
Như đă nói trên, tuy ta thất bại về quân
sự nhưng bù lại ta đă thành công về phương
diện chính trị.
Bằng cớ là sau khi chúng ta đi rồi, các lực lượng
quân sự kế tiếp từ “Cộng Ḥa Vệ Binh Nam
Việt” đến “ Phật Đạo Bửu Sơn
Kỳ Hương” đều bị dân chúng kêu rêu oán
thán. Họ vô cùng mến tiếc sự ra đi của chúng
ta và mong ước có ngày chúng ta trở lạị Người
dân thường nhắc nhở và đánh giá cao chúng ta như
sau:
- Cấp chỉ huy quốc gia đều là nhân tàị
- Người “quốc gia” rất anh hùng, quân tử, không
trả thù bừa bải (do việc chúng ta dù bị
thiệt hại rất nặng nề về nhân mạng
trong lần đột kích của Việt Minh, nhưng
tuyệt đối không có hành động trả thù hay làm
khó dễ bất cứ ai).
- “Quốc gia” là những người trung hậu,
thủy chung ( qua việc một số anh em kết hôn
với những thôn nữ ở địa phương và
ăn ở với vợ đến răng long tóc bạc,
con cháu đầy đàn)
Danh từ “nhân tài” mà dân chúng khen tặng chúng ta
về sau được thể hiện bằng việc
“cấp bộ chỉ huy quốc gia” sau nầy đều
trở thành sĩ quan cấp Tá trong Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa, mà nhứt là về sau anh Sáu Long tức Dương
Hiếu Nghiă về làm Tỉnh Trưởng Vĩnh Long th́
uy tín của chúng ta càng cao thêm.
Và cũng nhờ t́nh cảm sâu đậm nầy mà sau
khi đi tù cải tạo về, tôi trở lại An Thành
(quê vợ) sống trên 10 năm yên lành cho tới ngày qua
Mỹ theo diện H.O, không kể những anh em chiến sĩ
c̣n ở lại đây sau khi chúng ta rút đi vẫn
được an cư lạc nghiệp bên cạnh vợ
con đến măn đờị
Trước khi chấm dứt thiên hồi kư nầy, tôi
nghĩ cũng cần nói thêm một vài sự kiện
đặc biệt trong thời gian chiến khu An Thành chưa
giải thể. Đó là việc chúng tôi đă áp
dụng nếp sống “bưng biền” tại chiến
khu:
- Mỗi buổi sáng vừa thức dậy th́ mọi người
tay cuốn nóp, miệng hát bài “Cung Kèn Rạng Đông”.
- Mỗi buổi tối trước khi đi ngủ
phải tập họp phê b́nh kiểm thảọ
Về cách xưng hô đối với cấp chỉ huy,
chiến sĩ không gọi tên mà gọi thứ như Anh
Hai (gọi anh Khải), anh Ba (gọi anh Lựu) và anh Tư
(gọi tôi, Tư Thiên) theo cách ở trong “bưng” lúc
bấy giờ.
Sự kiện cuối cùng có tính cách “để đời”
là chúng ta đă để lại tại đây một con
đường và một con kinh. Đây là một con
đường dài trên hai cây số đi từ đ́nh
Anh Thành đến bến đ̣ B́nh Lương. Con
đường này được đặt tên là con
đường Nguyễn Hưng Khải để tưởng
niệm Đồng Chí đă hy sinh tại chiến khu An Thành.
C̣n con kinh sau khi đào xong chưa kịp làm lễ Khánh Thành
đặt tên th́ xảy ra biến cố. Tuy nhiên, về
sau đồng bào địa phương vẫn đặt
cho nó một cái tên là “kinh Già Dách”. Tên này vẫn
tồn tại tới bây giờ trong khi tên con đường
(Nguyễn Hưng Khải) th́ bị Việt Cộng xóa tên
như chúng đă xóa cả ngôi mộ của Anh sau ngày
mất nước. Về con kinh, sau mấy tháng làm
việc cật lực dưới sự giám sát của ta,
con kinh đă hoàn thành. Bây giờ, trong những lúc trà dư
tửu hậu đồng bào thường nhắc lại
việc những người bị phạt đào kinh do
đánh Già Dách. Họ nhắc lại để cười
vui trong sự ngưỡng phục việc làm của chúng
tălà v́ họ) chớ không phải với sự
hận thù.
Đối với dân địa phương, con đường
và con kinh nầy đă đem lại vô vàn tiện lợi
cho sinh hoạt của mọi người từ đó
đến nay và măi măi về saụ
Tiện thể tôi xin nói qua về lễ Truy Điệu
hai chiến sĩ đảng viên Đại Việt đă
bỏ ḿnh đầu tiên tại chiến khu An Thành. Đó
là đồng chí Lê Văn Phát và đồng chí
Nguyễn Văn Phó. Buổi lễ được tổ
chức tại bờ sông gần Tổng Hành Dinh v́ theo
truyền thống dân gian những người bị
chết dưới nước phải được chiêu
hồn gần bờ sông (do đồng chí Nguyễn Văn
Phó bị Việt Minh sát hại bằng cách neo đá).
Đồng chí Trần Văn Tự vốn có hoa tay
được phân công họa chân dung của hai đồng
chí, c̣n tôi được phân nhiệm soạn bài điếu
văn. Với khả năng hạn hẹp tôi đă làm
ba bài thơ để vinh danh hai đồng chí như sau:
Lê Lợi ngày xưa mấy kẻ tàỷ
Văn thần Nguyễn Trải một không haị
Phát khởi non Lam muôn giặc khiếp
Chấn hưng nước Việt một tài traị
Nguyễn Huệ xưa kia ít kẻ b́,
Văn tài, vơ dũng đáng tu mi
Phó nhậm Bắc phương danh chẳng mất
Vẫy vùng Nam phận sử c̣n ghị
Vị quốc vong thân, đổ máu đào
Quốc dân Đại Việt quyết nêu cao
Vong linh chiến sĩ c̣n lưu măi
Thân xác ngaỳ nay ở chốn nàỏ
(Bài thơ truy điệu này do anh Nguyễn Văn Hữu
(Chỉnh) nhân danh Chỉ Huy Phó, Chủ Tế, đọc).
Tôi cũng xin nói thêm là sau ngày qua Mỹ, nhơn mùa Vu Lan
năm 1996, nhớ tới cảnh ngộ bi thương
của anh Nguyễn Hưng Khải (bí danh Hai Kiệt),
một đồng chí trung kiên bất khuất đă dâng
hiến cả cuộc đời niên thiếu cho lư tưởng
“Dân Tộc Sinh Tồn”, đă sống và đă chết
v́ Đảng, nên tôi viết bài “Hoài Niệm” dưới
đây để tưởng nhớ đến Anh:
HOÀI NIỆM
Một sáng năm xưa tiết lạnh lùng,
Sương mờ bao phủ quảng trời đông
Vẳng nghe tiếng vọng vang trong gió
Như giục ra đền nợ núi sông.
Từ đó Anh đi chẳng trở về,
Tung hoành ngang dọc khắp sơn khê
Dốc ḷng v́ nước, v́ Dân Tộc
Bao quảng mưa thu với nắng hè.
Tuy thế người không chút nản ḷng
Kiên tŕ vùng vẫy chiến khu Đông
Bao lần thất bại nhưng cương quyết
Theo gót người xưa lập chiến công.
Sứ mệnh chưa tṛn hóa dở dang,
“Trả thù Anh Phát”! * Tiếng c̣n vang
V́ tên nội tuyến ma Anh phải
Lià bỏ “anh em” với họ hàng.
Mấy chục năm rồi, một nắm xương
Chôn vùi trên mảnh đất quê hương
Anh em đồng chí c̣n ai nhớ
Tới một người anh gục giữa đường?
Tháng bảy Vu Lan chợt nhớ Anh,
Ĺa đời trong lúc tuổi c̣n xanh
Không người thừa tự, không hương khói
Hồn phách phiêu du dựa cội cành!
* Khi tẩm liệm đồng chí Lê Văn Phát, đồng
chí Nguyễn Hưng Khải đă hô to ba lần câu “Quyê't
trả thù cho Anh Phát”
Viết xong tại San Jose, ngày 29/10/96
TƯ THIÊN