Khủng hoảng và nguyên nhân
Về tính chính thống trong chế độ Hà nội ngày nay

    Nguyễn văn Trần

  Xă hội việt nam đang bị khủng hoảng nghiêm trọng . Nhiều người trong đảng lảnh đạo, tức đảng cộng sản, đứng lên đ̣i hỏi dân chủ . Tham nhũng và cửa quyền đang cướp giựt tài sản, đất đai, nhà cửa của dân chúng một cách có hệ thống . Công nhân bị bốc lột, bị đánh đập, bỡi chủ nhân mà không được luật pháp bảo vệ . Nhà cầm quyền c̣n đứng về phía chủ nhân . Mọi giá trị đạo đức, phong tục tập quán tốt đều bị phá sản bỡi hệ thống xă hội chủ nghĩa .
Nay thiết tưởng đă đến lúc cần phải t́m hiểu thực tế xă hội và phải t́m ra nguyên nhân của khủng hoảng .
Nguyên nhân cơ bản của khủng hoảng, theo chúng tôi, không ǵ khác hơn là chế độ cầm quyền tại Việt nam ngày nay không c̣n tính chính thống để cai trị nữa.

  I – Tính hợp pháp hiến định

  1 .Trước khi đề cặp đến tính chính thống của chế độ hà nội, tưởng nên nh́n qua mặt pháp lư của chế độ ấy .

Theo định nghĩa của chánh trị học, Nhà nước hay chánh quyền là sáng tạo của con người . Đó là một tập họp đă được định chế hóa, một pháp nhân hoàn toàn tách rời, biệt lập với thể nhân của người cầm quyền . Nhân danh Nhà nước, người cầm quyền thi hành chức năng của ḿnh . Quyền lực thể hiện ở chức năng chớ không ở con người . Do đó, một Nhà nước thật sự của dân, v́ dân là Nhà nước «  cai trị bằng luật pháp chớ không cai trị bằng con ngưới  » .
Hơn nũa, Nhà nước không thể đoạn tuyệt với lịch sử dân tộc . Bỡi Nhà nước có sau con người , là sản phẫm của con người và lịch sử .
Sau cùng, Nhà nước , ngày nay,  c̣n bị chi phối bỡi những quan hệ với cộng đồng thế giới .
Nhà nước chxhcn/hà nội ngày nay xuất phát từ Hiến pháp 1992, kế thừa và bổ sung các bản Hiến pháp khác từ những năm 1946 . Khi đề cặp đến Hiến pháp là ư muốn nói đến tính pháp lư của một Nhà nước và đồng thời sẽ t́m hiểu một mặt khác của Nhà nước, đó là tính chính thống .
Tính hợp pháp hiến định và tính chính thống là hai ư niệm khác biệt, thuộc hai phạm trù khác  nhau . Tính hợp pháp thể hiện sự cưởng chế của quyền lực luật pháp là nguồn gốc của Nhà nước . C̣n tính chính thống là đặc tính, là giá trị tinh thần của  Nhà nước mà ư hệ, chủ thuyết hay hệ thống nhũng giá trị tiêu chuẩn được đa số dân chúng chấp thuận . Hai khái niệm về tính hợp pháp và tính chính thống tuy có khác biệt nhưng không v́ thế mà trở thành mâu thuẩn nhau . Trái lại, tính hợp pháp phải thể hiện nguyện vọng của nhân dân, phải biểu hiện sự đồng thuận rộng răi của dân tộc . V́ thế, tính hợp pháp hiến định của một Nhà nước vẫn phải được chính thống hóa . Có như thế, th́ Nhà nước ấy mới thật sự là Nhà nước của dân, do dân, v́ dân .
Nhưng vấn đề lại có khi phức tạp v́ tính hợp pháp hiến định thuộc diện pháp lư nên dễ nhận diện hơn tính chính thống, trừu tượng v́ được quan niệm trong phạm trù chính trị.

2 . Năm 1995, Việt nam bang giao với Hoa kỳ và gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam
Á . Việt nam từ đây đă thật sự gia nhập cộng đồng thế giới và vùng địa phương sau khi làm thành viên của LHQ, tham gia các công ước quốc tế .

3 . Mọi Nhà nước ngày nay đều được thành lập trong quan hệ chặt chẽ giữa cơ chế quốc gia và luật pháp quốc tế .

Nhà nước ban hành luật pháp để điều hành xă hội nhằm đem lại phúc lợi cho con người . Xă hội v́ bảo đảm phúc lợi của ḿnh, có nghĩa vụ phải tôn trọng Nhà nước, tức chấp hành luật pháp . Ngược lại , Nhà nước không thể tồn tại ngoài sự vận hành của xă hội, nên Nhà nước có bổn phận phải tuân hành luật pháp quốc gia . Thế mà, ở Việt nam ngày nay, Nhà nước xhcn không hề biết tôn trọng luật pháp của chính họ ban hành . Sự vi phạm lại mang tính qui mô trên cả nước, thường xuyên và có hệ thống . Hiến pháp qui định các quyền tự do căn bản như tự do tín ngưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội v.v… nhưng trên thực tế ngày nay, người dân ở Việt nam hành sử những quyền ấy đều bị đàn áp, trù dập, thậm chí tù đày dưới những tội danh ngụy tạo như «  gián điệp », « xâm phạm an ninh quốc gia ». Điển h́nh, c̣ thể kể trường hợp các tu sĩ, giáo phẩm thuộc Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhứt, Tin lành, người thượng ở cao nguyên , … Riêng đối với Phật Giáo Ḥa Hảo, Nhà nước cộng sản hà nội ban hành lệnh tiêu diệt tôn giáo nầy từ 5 đến 15 năm, kể từ năm 1979 . Đến năm 1999, v́ không tiêu diệt được, Nhà nước cộng sản hà nội đă phải tha làm phúc . PGHH được phục hoạt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Ban tôn giáo. Trường hợp Cao đài, sau khi thanh toán hết các chức sắc, cộng sản hà nội trắng trợn xâm nhập tôn giáo này, biến Thánh thất Cao đài Tây ninh trở thành một trung tâm du lịch .
Về chính kiến , những nhà dân chủ ở Việt nam thường xuyên bị công an xách nhiễu thô bạo, bị điều tra, bị đàn áp, bị cưởng bức đưa vào Nhà thương điên Chợ Quán, Biên Ḥa để triệt tiêu bằng y khoa những mầm móng dân chủ vừa chóm nở, bị du đảng do công an tổ chức hành hung trên đường phố hoặc ngay tại tư gia .
Hiện tại, theo những nguồn tin có cơ sở, ở Việt nam hăy c̣n hơn 200 tù chánh trị bị giam giữ trong nhiều nhà tù rải rác khắp cả nước mà không được xét xử.

  II – Tính chính thống

Tính hợp pháp hiến định của một Nhà nước chỉ có giá trị thật sự khi Nhà nước ấy hội đủ tính chính thống, tức có được sự đồng thuận quốc gia .

  1 . Về mặt lịch sử và ư hệ

Xă hội đuợc tổ chức và nảy nở trên một hệ thống giá trị nền tảng mà Nhà nhước phải tôn trọng như quyền sống có nhơn phẩm của người dân, sự tin tưởng ở xă hội thăng tiến, … Những giá trị này ngày nay trở thành giá trị tiêu chuẩn của mọi chế độ chánh trị .
Về mặt lịch sử, đối với mỗi quốc gia, lịch sử giữ một vai tṛ hệ trọng trong việc thiết lập những cơ chế điều hành đất nước . Lịch sử với những giá trị truyền thống trở thành những giá trị qui chiếu cho hiện tại .
Lịch sử việt nam trước đây cho thấy có nhiều vua chúa thương dân, biết chăm lo đời sống của dân hơn là bạo chúa . Nhà vua nhận lănh mệnh Trời cai trị dân nên sợ làm sai trái bị Trời phạt
C̣n Nhà nước cộng sản chịu sự sai phái của đảng cộng sản nên không sợ bị Trời phạt . Những điều phúc lợi do nhà vua thực hiện cho dân phù hợp với điều mà ngày nay, chúng ta gọi là nhơn quyền .
Về mặt chánh sự, ngày xưa các chức vụ quan trọng trong triều đ́nh , người dân có thể đăm nhiệm qua cuộc thi tuyển tổ chức công cộng . Người dân b́nh thường vẫn có quyền kiến nghị lên nhà vua . Và nhũng kiến nghị thuờng đuợc nhà vua hoặc triều đ́nh quan tâm giải quyết . Ngoài ra, nhà vua c̣n khuyến khích dân chúng mạnh dạng phát biểu ư kiến để triều đ́nh hiểu được nguện vọng của dân . Vua Minh Mạng thường nói « việc nước quá lón, mà sự hiểu biết của một người th́ quá nhỏ, nên dân chúng phải tham gia ư kiến để việc nước có kết quả tốt đẹp . »
Về mặt luật pháp, ở Việt nam, dưới thời quân chủ cực thịnh, có hai bộ luật Nhà Lê và Nhà Nguyễn có nhiều mặt rất tiến bộ không kém ǵ luật pháp tây phương và trên đại thể, đă bảo đảm cho những quyền căn bản của con người, tức nhân quyền ngày nay .
Người cộng sản để cầm quyền, chủ trương đoạn tuyệt với truyền thông ấy . Quyền hành chỉ ban phát cho những người trong đảng . Thay v́ phục vụ nhân dân, Nhà nước cộng sản xem nhân dân là kẻ thù phải luôn luôn đề pḥng nên tước đoạt của dân tất cả các quyền căn bản, chỉ để lại cho dân quyền tồn tại mà thôi .
Năm 1945 là thời điểm mà người cộng sản đoạn tuyệt hẳn với lịch sử dân tộc .

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, những người cộng sản Trần huy Liệu, Cù huy Cận, Nguyễn lương Bằng, đại diện  Ủy Ban Cứu quốc và Việt minh, tiếp chiếu thoái vị của Hoàng đế Bảo Đại mà một trong những điều kiện để trao quyền là chính quyền mới phải « lấy sự ôn ḥa xử trí đối với các đảng phái đă từng tranh đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi theo sát phong trào dân chúng … để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng chánh phủ dân chủ cộng ḥa nước ta đă xây đắp trên sự đoàn kết của toàn thể quốc dân »
Chiếu thoái vị của Hoàng Đế Bảo Đại xứng đáng là một bản Đại Hiến chương của Việt nam bởi Ngài đă đem vương quyền thừa kế hằng 400 năm trao lại cho một Chánh phủ Cộng ḥa chỉ v́ thật ḷng hưởng ứng khát vọng dân chủ của quốc dân « 
thà làm dân một nước độc lập c̣n hơn làm vua một nước nô lệ ». Khi ban hành bản Đại Hiến Chương của Anh, vua Jean sans Terre, năm 1215, đă nhường lại một phần quyền của ḿnh cho các vị vương tước chỉ v́ áp lực của họ quá mạnh .
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trong cuộc mít tinh tại vườn hoa Ba Đ́nh ỏ Hà nội, đọc Tuyên Ngôn Độc Lập, Hồ chí Minh long trọng tuyên bố « một chánh phủ do dân, v́ dân ra đời  » . Đó là một lời cam kết gián tiếp đáp ứng chiếu thoái vị của vua Bảo Đại.
Nhưng sau khi nắm được chánh quyền trong tay, người cộng sản hà nội chẳng những không quan tâm đến những điều đă cam kết trưóc quốc dân như là một điều khoản đón nhận chiếu thoái vị của vua Bảo Đại, mà c̣n bố trí để bội ước và nhất là thiết lập một chế độ chuyên chính độc tài toàn trị, phá hủy đoàn kết dân tộc bằng đấu tranh giai cấp kịch liệt, gieo rắc hận thù trong cả nước .
Như vậy, Đảng cộng sản đă tự ḿnh phá hủy tính chính thống của công cụ cầm quyền của ḿnh, đó là Nhà nước chxhcn .

  2 . Về mặt xă hội kinh tế

Mối quan hệ giữa Nhà nước và dân chúng ngày nay quá gay gắt  nên khó có được sự hợp tác giữa dân với người cầm quyền . Điều này trở thành một sức cản lớn cho mọi chưong tŕnh phát triển đất nước . Chánh quyền v́ quan tâm đến sự tồn tại của chế độ nên không nghĩ đến t́m giải pháp cho các vấn đề dân sinh .
Sau nửa thế kỷ cầm quyền ở miền bắc, rồi trên cả nước, Nhà nước cộng săn ngày nay đă đưa việt nam xuống hàng những nước tụt hậu, nghèo đói nhất thế giới . Xă hội việt nam phân hóa, nhân tâm ly tán, đạo đức không c̣n, mọi giá trị truyền thống bị phá hủy. Dân việt nam có truyền thống hiếu học, trọng văn, trọng lễ nghĩa, th́ ngày nay, nhà trường xă hội chủ nghĩa là nơi mà « thầy không muốn dạy, tṛ không muốn học » . Kiến thức qua giáo dục và đào tạo đă thật sự xuống cấp thảm hại để được phơi bày trong các từng lớp dân chúng « dốt như chuyên tu, ngu như tại chức, chánh qui như cứt ».
Ngày xưa, dưới thời quân chủ rồi thực dân đô hộ, người dân việt nam sống nghèo, làm thuê làm mướn thật. Nhưng ít ra tối thiểu quyền sống của người dân vẫn được luật pháp thời ấy bảo đảm . Chế độ quân phân tài sản đă giúp cho đa số dân chúng nghèo có được điều kiện mưu sinh và giữ ǵn nhân phẫm của ḿnh . Khi kiểm soát được miền bắc, Hồ chí Minh vâng lệnh Staline và Mao trạch Đông phóng tay cải cách ruộng đất, giết hại hằng nửa triệu nông dân vô tội . Kế tiếp, Hồ chí Minh c̣n cho thực hiện những cuộc cải cách khác trong công thương nghiệp . Những đánh phá cướp đoạt này đă làm tê liệt sản xuất xă hội suốt trong một thời gian dài mấy thập niên. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Hà nội lại mang những cuộc cách mạng xă hội chủ nghĩa ấy vào Miền nam và đă kéo được Miền nam trù phú rớt xuống ngang hàng nghèo đói với Miền bắc, để cả nước đều đói meo như nhau . Ngày nay, tham nhũng, cửa quyền đă làm cho những người dân nghèo này trở thành nạn nhân của Nhà nước . Uất hận, oan khiên ngày càng chồng chất, báo hiệu sự bùng nổ xă hội xem ra thật khó tránh .
Về mặt ư hệ, xă hội, kinh tế, Nhà nước Hà nội đă tự tách ḿnh ra khỏi văn hóa dân tộc, tức đoạn tuyệt với quá khứ dân tộc . Khi làm như vậy, Nhà nước Hà nội cũng đă đánh mất đi tính chính thống của chính ḿnh .

Kết luận

Qua cái nh́n tổng kết về mặt pháp lư, chúng ta có thể nói sau hơn 50 năm cầm quyền trên cả nước, Nhà nước Hà nội liên tục tri t́nh vi phạm luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế. Nó đă trở thành bất hợp pháp. Nhưng nghiêm trọng hơn, chính quyền hà nội đă đánh mất tính chính thống của ḿnh. Bởi tính hợp pháp hiến định của chính quyền chỉ là khuôn khổ pháp lư để vận hành chính quyền, cho phép chính quyền hành sử chức năng của ḿnh mà điều hành xă hội . Tính chính thống mới là nội dung, là linh hồn của cơ chế pháp lư ấy . Tính chính thống là phản ánh cái khế ước giữa chính quyền với nhân dân . Khi Nhà nước vi phạm tính hợp pháp và tính chính thống, tức cái khế ước ấy bị hủy bỏ, th́ người dân không c̣n bổn phận tuân thủ  Nhà nước nữa . Đây là lúc người dân tự động đứng lên giành lại quyền tự ḿnh cai trị ḿnh .
Những phong trào nhân dân đứng lên đ̣i dân chủ, công nhân đ́nh công, nạn nhân nhà đất kéo nhau đi biểu t́nh, tất cả đều xuất phát từ ư thức hành sử quyền tự quyết của người dân . Bỡi người dân đứng lên chống đối Nhà nước khi bị Nhà nước áp bức, đó là quyền tự do tinh thần
Nó thuộc những quyền bất khả nhượng của con người .
Sự thiếu vắng tính chính thống của Nhà nước đă đưa Việt nam vào những khủng hoảng xă hội ngày càng thêm trầm trọng . Muốn giải quyết t́nh trạng khủng hoảng nầy, tưởng không có cách nào khác hơn là phải tác động ngay ở khâu nguyên nhân của khủng hoảng. Tức phục hồi tính hợp pháp hiến định và tính chính thống của Nhà nước. Nhà nước Hà nội phải tổ chức một cuộc bầu cử thật sự tự do, lương thiện, với sự tham dự của toàn dân . Và phải cho ra đời một bản Hiến pháp mới đặt lại nền móng pháp trị dân chủ .

Nhiều bài học lịch sử hảy c̣n đó . Nước Nhựt sau khi thua trận, chấp nhận bản Hiến pháp do Huê kỳ đề nghị, không mặc cảm, áp dụng thực hiện dân chủ . Ngày nay, Nhựt trở thành cường quốc kinh tế đứng hạng nh́ trên thế giới . Đức từ độc tài phát xít chuyển qua dân chủ bằng một bản Hiến pháp dân chủ lấy giá trị con người làm gốc . Ngày nay, Đức trở thành một cường quốc của châu Âu. Sau nhũng biến cố Đông âu, các chế độ cộng sản lần lược sụp đổ, cả một hệ thống chính quyền cộng sản củ đă  chuyển hóa thành dân chủ, không đỗ máu, không xáo trộn, nhờ biết đi theo đường lối hiến định, dựa trên Hiến pháp mới hay tu chính lại Hiến pháp cũ, nhưng đoạn tuyệt với mọi h́nh thức độc tài cộng sản trước đây .

Việt nam tại sao không có thể học bài học lịch sử ấy ?

 

 Nguyễn văn Trần