Kinh Tế Thị trườn
Tiến Sĩ Phan Văn Song, Chủ Tịch Đại Việt Quốc Dân Đảng

  « Liên Hiệp (Âu châu) dành mọi nỗ lực để xây dựng lâu dài một Âu châu .. trên một nền Kinh tế Thị trường Xă hội … »*

Hiến Ước Âu châu 1 : 3

  Từ nhiều năm nay, đặc biệt từ những năm chống chiến tranh Irak của cặp bài trùng Chirac-Shroeder (Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức) quan niệm Kinh tế thị trường Xă hội (Économie Sociale de marché / social economy of market) hay là Kinh tế Tư do Xă hội (libéralisme social /  social liberalism ) được các nhà b́nh luận và nghiên cứu chánh trị-kinh tế Âu Tây  bàn luận rất nhiều. Quan niệm nầy được tŕnh bày như là một cái mẫu quản trị kinh tế Âu Tây  để phát triển Âu châu, lục địa của thế giới cũ, (diển văn của  Ngoại trưởngPháp  de Villepin trước Liên hiệp Quốc) thế giới của Văn hóa trọng Con Người và đặt Con Người vào trọng tâm, trái với quan niệm gọi là trường phái Anh -Mỹ (anglo – saxon) trường phái Kinh tế Thị trường Tự do (Économie de marché libérale - liberal economy) của một thế giới mới   Văn minh kỹ thuật  nhưng phát triển trong  hổn loạn, không kiểm soát, thả  nỗi theo luật cung cầu của  thị  trường (hay đúng hơn kiểm soát bắng kỹ thuật  để t́m kết quả về lợi nhuận)  và Con Người thường bị bỏ quên.

  Cuộc Trưng cầu dân ư vừa qua ở Pháp đă đưa lập luận rằng Kinh tế Tư bản thị trường tương lai của Liên Âu sẽ « mất chất xă hội »  làm vấn đề chánh để đem đến tranh luận và bàn cải. Theo nhận xét riêng của chúng tôi th́ nền Kinh tế tương lai chỉ là một vấn đề quan niệm  nhỏ thôi.
Nhưng dù thế nào đi nữa 25 quốc gia thành viên Liên Âu cũng phải ngồi lại với nhau để t́m cho được một mẫu số chung về tổ chức xă hội,mẫu số  kinh tế,
để trả lời những bài toán nan giải về công ăn việc làm ( tạo việc làm để đơn thuần chống thất nghiệp không giải quyết được vấn đề tạo việc và xây dựng hệ thống tay nghề), vấn đề phát triển đồng bộ cân bằng, vấn đề điều ḥa những điều kiện để phát triển, nghề nghiệp hóa  việc làm, vấn đề phụ túc liên đới, dân sinh,  xă hội.. Quan trọng là một nền  kinh tế thị trường xă hội phải được  dựa trên ba cột trụ xă hội : Giáo dục (cưởng bách và miển phí cho đến có tay nghề) ; Y tế (miển phí-với một mạng lưới đi đến cấp huyện), Hưu trí và tuổi già được che chở ; nhưng vẫn giữ phần tiên tiến về mặt kỹ thuật, cạnh tranh, nghiên cứu .. do luật thị trường đ̣i hỏi.

  Hiện nay, Kinh tế Thị trường Xă hội vẫn c̣n ở trong địa hạt lư luận, trao đổi quan điểm.

  1/ «  … Một sự nhầm lẫn khổng lồ » 

Nếu quan niệm Kinh tế thị trường Xă hội vẫn chưa có một tương lai rơ ràng cũng  v́ trong quá khứ, quan niệm ấy cũng thiếu một lịch sử trong sáng. Từ ngữ nầy là một sự vá víu không vững vàng giữa những quan điểm khác nhau. Người đầu tiên đưa từ ngữ ấy vào chánh trường đă sử dụng như một khẩu hiệu  tranh cử. Đó là ông Thủ tướng Đức, Tiến sĩ  Ludwig Erhard.  Vào những năm ’50, ông được xem như là người cha đẻ của phép « mầu nhiệm (kinh tế) Đức », ông cũng là vị kinh tế gia lỗi lạc, giáo sư của Đại học Fribourg  với  lư thuyết «  ordo libéralismus »,  một lư thuyết kinh tế, mô tả  một nền  kinh tế  tuy được gọi là «  tự do »  nhưng được ông đóng khung trong những « luật lệ chặc chẽ ». Để tranh cử, và để chống lại những đôi thủ thuộc Đảng Xă hội đang đ̣i hỏi  nới rộng những quyền hạn và vai tṛ kiểm soát của Nhà  Nước dể sửa sai những kết quả của một chế độ kinh tế « Tư bản tự do» bằng những luật «công bằng xă hộỉ », ông bèn dùng một xảo thuật nghề nghiệp : Từ ngữ « xă hội » được ngay Ngài Thủ tướng, giáo sư kinh tế đại tài xữ dụng để chận đứng những đ̣n  lư luận của các đối thủ của ông. Và ông chứng minh rằng « không ǵ xă hội bằng kinh tế thị trường ! » và ông ráp ngay Kinh tế thị trường với tĩnh từ Xă hội. Nếu thoạt đầu chỉ là một khẩu hiệu tranh cử, với tài nghệ của ông, từ ngữ nầy biến thành một ư thức hệ, một quan niệm kinh tế, một trường phái kinh tế. Với những bài nhận định, phân tích khoa học để tạo  một sự tin tưởng rộng răi trong dân chúng,  từ ngữ nầy đă biến thành một chủ thuyết.

  « Không nên nói như vậy, đây là một sư nhầm lẫn khổng lồ » Tiến sĩ Friedrich Von Hayek (1899 -1992), giải Nobel kinh tế 1974, vị trưởng tràng của trường phái Aó,  của những trí thức gia thuộc phái  « tự do chủ nghĩa » toàn thế giới, phải thốt lên câu nói nầy, để răng dạy anh đàn  em học tṛ Ludwig Erhard đă dám mó tay mở cái nồi « luyện linh đơn », « cái hộp của Pandore » (hộp bửu bối). Và mặc dù Ngài Tiến sĩ Thủ tướng giáo sư kinh tế cố đưa ra những bài đính chánh, những lời hối hận, mọi việc đă trễ rồi : Con tàu « Kinh tế thị trường xă hộỉ » đă có một đời sống độc lập, trôi  theo  những gịng tư tưởng chánh trị như một con thuyền không bến.

  Chủ thuyết nầy đă phá vỡ nền kinh tế thị trường tự do và đánh bại «  nhóm tự do » ở Đức.

2/Chủ thuyết Kinh tế thị trường xă hội nói ǵ ?

  Nền Kinh tế nầy theo lư thuyết phải là một nền kinh tế thị trường tự do, nghĩa là bị ảnh hưởng và phát triển theo nhịp của luật Cung/Cầu của thị trường. Nhưng nó phải được kiểm soát, bổ sung, sửa sai bởi Nhà Nước, để san bằng sai biệt xă hội giai cấp, tạo công bằng xă hội, tạo sự liên đới bổ sung  giữa những giai cấp, thành phần xă hội.

  Khi được định nghĩa như vậy, chủ thuyết nầy được nhóm « dân chủ xă hội » Âu châu, và đặc biệt Đức,  làm vũ khí tuyên truyền ngay. Họ xữ dụng như « con đường thứ ba », đi giữa hai làn quá khích « kinh tế thị trường tự do » và « kinh tế chỉ đạo ». Con đường kinh tế thứ ba nầy biến thành « con đường ngoại giao thứ ba » khi các nhà lănh đạo Âu châu xữ dụng nó để đứng giữa « Tư bản Tự do chủ nghĩa » Huê kỳ vả khối « Cộng đồng chủ nghĩa Đỏ » Liên Sô. Và cuối cùng vào đầu thế kỷ thứ XXI lại được tất cả những ai, có lư hay không có lư xữ dụng để lánh xa Huê kỳ, với  W. Bush, nhóm Tân Bảo thủ và các đồng minh, được nhận diện đó là « trường phái anglo – saxon » một cách miệt thị và đầy chủng tộc tánh. Một trường phái bị nguyền rủa  là một trường phái kinh tế thị trường hổn loạn, vô tồ chức, rừng rú.

  Nhưng hiện nay với sự khủng hoảng của Liên Âu. Trường phái nào thực sự « Xă hội » ?

Thị trường tự do để tạo sự giàu có và phát triển trước, sau đó để tổ chức Xă hội ? Hay

Tư do và Xă hội song song  với một sự phát triển đồng bộ, mặc dù có chậm hơn.

 (Nước Anh phái Tự do với Tổng sản lượng/ đầu người 27 000 US$, Chỉ số phát triển  2,8%, Chỉ số  thất nghiệp 5% ;  so sánh với  nước Pháp, phái Tự do Xă hội : TSL/Ng 24 000 US$, Pt 1%,  thất nghiệp 10%)

3/ Công Bằng Xă hội là ǵ ?

Cái khó khăn là làm sao cắt nghĩa được “công bằng xă hội”.
Ai cũng mơ có công bằng xă hội, từ thuở khai thiên lập địa, nhà lănh đạo quần chúng nào, nhà tiên tri nào cũng nói đến “công bằng xă hội”. Ai mà không có một giấc mơ có một xă hội công bằng hơn, có một nền công lư trong sáng hơn để mỗi người đều có một chổ đứng , một địa vị xứng đáng với nhân phẩm của ḿnh, và có cùng một cơ hội và những điều kiện chung để hưởng mọi phát triển khoa học kỷ thuật ? Nhưng đó là một khái niệm trừu tượng, khó khăn nhiều khi dẫn đến những bài giải hoàn toàn trái ngược nhau.

Thoạt tiên, quan niệm của Aristote (-384 / -322) chia công lư thành hai loại: công lư chỉnh lưu và công lư phân phối (justice commutative et justice distributive). Một loại là mỗi ngựi  chỉ nhận những ǵ mỗi chúng ta đem lại nghĩa là “công lư được hưởng theo công đức”.  Loại thứ hai “công lư được trả theo nhu cầu”, nghĩa là tùy theo mỗi hoàn cảnh, mỗi người  được hưởng phần công lư đó. Ai đúng ai sai? thế nào là công bằng? Aristote và sau đó Thomas d’Aquin (Saint) (1228 – 1274) trả lời rằng tùy trường hợp, tùy điều kiện của khế ước cá nhơn hay cộng đồng . Trong một văn kiện khế ước, không nên làm thiệt tḥi lẫn nhau, mỗi việc phải được trả giá đúng mức. Nhưng trong một công đồng, cũng như trong một gia đ́nh chúng ta cũng dễ hiểu là mỗi người chỉ nhận một phần tối thiểu đúng với phần do lượng ước cá nhơn.

Sai lầm to! V́ tât cả những nỗ lực để đem lại những chia sẻ công bằng đều vô vọng. Triết lư gia nỗi tiếng John Rawls, sau những năm nghiên cứu, đi đến kết luận: công bằng xă hội chỉ thực hiện được “khi nào người ta ban phát tối đa cho những người thiệt tḥi nhứt (có ít nhứt), nhưng vẫn giữ được mức tăng trưởng chung ở mức độ cao nhứt cho toàn thể mọi người” . John Rawls nhận thấy rằng lấy của người nầy để chia cho kẻ khác không phải là cách làm, v́ không có phát triển, và sau cùng tất cả đều nghèo khó lần lượt: những ư thức hệ san bằng cách biệt trong xă hội đều bị phá sản ở mọi nơi, mọi người b́nh đẳng là một tư tưởng không tưởng. Chúng ta phải biết tổ chức lại cuộc phân chia, một cách khôn khéo, để sự san bằng có thể được chấp nhận ở mọi người. Nhưng đâu là mức “tối thiểu” (hay là cái “tối đa” của những người có “tối thiểu”).Không ai trả lời được , cả John Rawls, cả nhà giải thưởng Nobel kinh tế 1998 Amartya Sen (1933 -   ), người đă từng bỏ công nghiên cứu, chưa ai tính được một bài giải vừa ḷng cả mọi người – “kẻ nhận vẫn cảm thấy chưa đủ - kể cho thấy đă quá thừa rồi”.(Thật là tâm trạng:  “cho cũng nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”)

 Frederich Von Hayek đề nghị một cái nh́n khác. Có vẽ hợp t́nh hợp lư hơn, có vẽ “công bằng “ hơn. Ông đề nghị lựa chọn giữa “công bằng trong kết quả” hay “công bằng trong thủ tục”. Bởi làm sao đo lường được kết quả?  (giữa những san bằng do trao đổi, bù trừ). Chúng ta thử nhin vào một khía cạnh khác: thủ tục: bằng cách ǵ, chúng ta đánh giá? Trong phương pháp nầy, chúng ta không c̣n đánh giá con số người nghèo với con số người giàu để đo lường được sự bất công hay mất thăng bằng của một xă hội. Chúng ta phải  đo lường bằng những thủ tục ǵ để nói đó là người  giàu (hoặc người nghèo) ? Trong một xă hội mà một luật rừng được áp dụng, kẻ thắng là kẻ có sức mạnh, kẻ giàu là kẻ cầm quyền, tịch thu, cướp giựt, tham nhũng , xă hội đó đương nhiên là một xă hội kém công bằng. Tài sản, sự giàu có của các nhà độc tài, của một nhóm mafia, băng đảng, bạn bè, đoàn thể, đảng viên không phải là những sự giàu có trong lương thiện, trong công bằng xă hội. Vậy th́:

4/Kinh tế Thị Trường , làm  giàu trong  “công bằng” ?:

Làm kinh doanh qua kinh tế thị trường có phải là cách làm ăn lương thiện, làm giàu trong công bằng ?

Có kẻ cho rằng làm ăn theo kinh tế thị trường là một cách làm ăn có tính cách bóc lột, lợi dụng.

Cũng có người bảo rằng làm ăn theo kinh tế thị trường là chuyện không thể không làm được, bất khả kháng, cái đường phải đi bắt buộc.

Nhóm thứ nhứt nói rằng kinh tế thị trường do dân nhà giàu bóc lột dân nghèo để càng ngày càng giàu hơn. Liên hệ không cân bằng giữa “sức lao động” và “của cải”. Quan hệ bất công nầy do nhiều nguyên nhơn tạo thành. Đệ tử của Marx nói đấy là do của  tính cách “tư hữu”của “Tiền Vốn” (Tư bản) V́ là quan niệm “đầu tiên” của đầu tư là  “tiền đâu”, Tiền Vốn, hay Chủ Vốn đóng một vai tṛ tối ưu trong tiến tŕnh sản xuất. Sự mầt cân bằng giữa “kẻ có vốn – có tiền bỏ vốn bỏ tiền” và những kể không có ǵ cả, ngoài “sức lao động”. Người bỏ vốn, chủ nhơn, với thế thượng phong của tiến bạc, bóc lột kẻ làm công trả lương không tương xứng với sức sản xuất thực sự. Sự cách biệt, gọi là lợi nhuận, chủ nhơn hưởng trọn.

  Ngày nay, với một nhản quan tiên tiến hơn, vài nhà kinh tế gia đưa ra thuyết chủ nhơn tài sản  là chủ nhơn của  thông tin, hay chủ nhơn của sự hiểu biết.Một khế ước giữa một kẻ “biết” và một kẻ “không biết” dỉ nhiên là bất b́nh đẳng.Sự “bất b́nh đẳng” trong khế ước ấy là khỏi đầu của mọi sự bóc lột. Bất b́nh đằng, bất công giữa ngựi bán “biết” và người mua “không biết”, tay thợ nhà nghề “biết” và anh tay mơ, bạn hàng “không biết”, anh chủ nhà cho thuê nhà “biết” và anh đi thuê nhà “không biết”..và dỉ nhiên đó không ǵ khác hơn là quan hệ bất b́nh đẳng giữa anh chủ nhơn “biết” và anh công nhơn” không biết” (trở lại thuyết mác –xít).Kinh doanh, thị trường là một sự “bất công” kẻ bán gạt người mua. Kinh tế thị trường là một sự lừa gạt kẻ giàu lầy của kể nghèo.

Làm ǵ có chuyện đó! các đệ tử của trường phái thị trường tự do nhao nhao phản đối. Theo họ, khế ước là một trao đổi bổ sung luởng lợi. Kẻ chín phân người tám lạng. Mỗi người sẽ t́m trong đối thủ ḿnh một đối tượng để trao đổi những dị biệt bổ sung cho nhau.Nếu ta phân tích các trao đổi tự nguyện, chúng ta sẽ thấy sự bổ sung của những dự tính rất chủ quan về quyền lợi trong sự lưạ chọn. Hăy nghĩ tới chuyện trao đổi giữa anh mù và anh què (“anh là cặp chơn của tôi và tôi là cặp mằt của anh”, và anh què được anh mù cỏng đi chơi) Frédéric Bastiat (1801 -1850) cho rằng thị trường là nơi trao đổi mà mọi người đều có lợi. Và Tư sản không phải là nguồn của sự bóc lột mà là phương tiện giúp chúng ta để chúng ta gặt hái những thành quả có thể trao đổi với những sáng tạo của những tư sản khác. Như vậy Tư sản là công bằng, Tư sản giúp chúng ta sáng tạo, đó là một sự ích lợi.Vi sáng tạo sử dụng cho nhu cầu của kẻ khác. Ngày nay ta thường nói khế uớc là lưởng lợi, là synallagmatique, hay Win-Win.

Thị trường là một sự cưỡng bách, đầy sức sống.Thị trường buộc chúng ta mỗi người phải suy nghĩ để làm sao có những sáng tạo để phục vụ nhu cầu của kẻ khác, và cũng sẳn sàng tiếp nhận những sáng tạo của kẻ khác. Và nếu chúng ta nhận địng rơ ràng rằng sự “Giàu có” “của cải”, “tài sản”  không phải là một “lô hàng hóa chất đống một cách vô hiệu lực” , mà là những “sáng tạo” để phục vụ “nhu cầu” của công đồng, th́ “Thị trường” là nơi có “công bằng” xă hội.

5/Làm sao xóa đói giảm nghèo:

Biết rằng thị trường là công bằng, và chúng ta đă nhận định vậy, chúng ta làm sao quên được những hệ quả của nó, chúng ta làm sao không thấy những người v́ bất tài hay v́ không may bị thị trường bỏ quên hay đặt bên lề của một xă hội  do lợi nhuận tạo thành ?Vi vậy quan niệm kinh tế thị trường xă hội mới được nghĩ tới: quan niệm nầy đề nghị những kết quả của thi trường phải được “kiểm soát” “dung ḥa” “sửa saỉ”. Dung ḥa sửa sai là những quan niệm rất “kinh tế chỉ đạo”, nhưng ở đây được sử dụng để tổ chức một kinh tế, để kiểm soát một thị trường, để tránh sự bất công trên thị trường lao động. Nhà cầm quyền phài lănh phần chỉ đạo ấy. Nhà làm luật phải tiên liệu một khuôn khổ luật lệ để tạo ra những khế ước quy định những liên hệ khế ước cộng đồng nghề nghiệp (conventions collectives) tránh những khế uớc cá nhơn (contrats individuels). Người ta vẫn ngại những sự cạnh tranh vô tổ chức. Nhà cầm quyền phải có bổn phận tạo một sự cạnh tranh công bằng. Không nên có những xí nghiệp quá lớn, độc tôn, độc quyền giữ một quyền “sanh sát” đối với thị trường lao đông. Không nên có nhửng thị trường “phá giá sức lao đông” (dumping salarial) phá giá bằng những thuế xă hội ( dumping sur taxes sociales) phá giá bằng những biện pháp thuế vụ ( dumping fiscal). Khu vực nào gặp khó khăn? (ở Pháp Nông nghiệp, hay kỷ nghệ May mặc) chúng ta hăy giúp đở nâng đở bằng trợ cấp, bắng giúp đở, bằng tái cấu tạo ( restructuration) bằng sáng kiến kỹ thuật, v..v. Tái phố trí, cân bằng, kiểm soát để điều ḥa thị trường chưa đủ, nhà cầm quyển phải biết phân phối lại tài sản: bằng thuế vụ nhà cầm quyền gọt dủa bớt những tài sản lớn (Đánh thuế  những nhà giàu : Impôt sur la fortune) để trợ cấp nhà nghèo.

  Thế nhưng sau 50 năm, sự bất công vẫn c̣n và chương tŕnh Tư bản Xă hội vẫn chưa đạt được mục đích, trái lại c̣n được xem thất bại. Ngày nay mẫu Tư bản tự do kiểu “Anh Mỹ” (anglo-saxon) đang được xem là thực dụng hơn. Tại sao?  Có lẽ những biện pháp được các nhà cầm quyền lựa chọn để “điều ḥa thị trường” không thích hợp: v́ lẽ các nhà chánh trị và các chuyên gia đă chọn sai vấn đề, họ xữ dụng lư thuyết và quản lư những tài sản và vốn liếng không phải của họ ( cha chung không  ai khóc). Những nhà quản trị Cộng sản cũng đă sai v́ lẽ ấy!  Họ làm những sơ đồ, quy hoạch cho nhiều năm, kế hoạch ngũ niên, kế hoạch ba năm vân ..vân. Họ quên rằng đồi sống kinh tế, chợ búa, thị trường là một quan niệm hằng ngày: chợ nhóm hằng ngày, theo dơi hằng ngày, tiên liệu.. Trong quan niệm kinh tế thị trựng quan niệm cạnh tranh là quan niệm mở, chỉ có khách hàng là quan trọng. Luật thị trường là luật cung /cầu. Kinh tế thị trường là đấu tranh trong cái Cung.

  Quan niệm phân phối tài sản do Nhà nước kiểm soát rất bị hạn chế: ngựi có của không thụ động chờ cho Nhà nước lấy thuế măi họ. Họ sẽ bỏ rơi Nhà nước, bằng cách hoặc hạn chế nghiệp vụ, bớt lợi tức, bớt thuế,  hoặc bỏ ra đi, đầu tư ở nước khác. Ngày nay ở Pháp, lợi tức không c̣n là lợi tức của sản xuất (revenu d’activité) mà rát nhiều gia đ́nh sông với lợi tức do công đồng giúp đở, đó là lợi tức liên đới ( revenu de solidarité).

Mục đích Xă hội đă giết chết Kinh tế .

Vậy th́ làm sao dung ḥa được Kinh tế và Xă hội ?

6/Tiến bộ xă hôi: phát triển kinh tế và tinh thần tương ái.

Và chúng ta trở lại với Ludwig Erhard, với quan niệm “Kinh tế thị trường xă hội”. Khi một chế độ kinh tế được đặt trên  nền tảng có một khế ước tự do, có một sự tư do kinh doanh và có một nền tài sản tư hữu, chế độ ấy sẽ đem lại sự tiến bộ xă hội và sự trách nhiệm liên đới xă hội.

Phân tích  kỹ qua thống kê chúng ta sẽ thấy  nền kinh tế tự do và sự tiến bộ xă hội được cột chặc với nhau một cách tự nhiên:

Kinh tế thị trường tự do đem lại sáng kiến, đó là điều tất yếu. Sáng kiến đem lại tiến bộ vế mặc kỹ thuật, tạo những nhu cầu mới với những phương tiện mới. Không gian kinh tê do kỹ thuật mới sẽ tạo những sự bổ sung mới. Sự cạnh tranh là một động cơ để đoạt thành tích.

Thống kê cũng đo lường được là những quốc gia nghèo thường là những quốc gia thiếu tự do,  với mức tăng trưởng kém. Trong một quốc gia giàu, sự cách biệt giàu nghèo sẽ dần dần được xóa bỏ rất nhanh. Bực thang giai cấp không c̣n  một vấn đề nữa. Mặc dù người giáu và người nghèo vẫn c̣n, nhưng ư niệm ấy phải được suy diễn trong phạm vi của thế giới quốc gia ấy. Làn ranh  nghèo  (seuil de pauvreté) ở Huê kỳ khác lằn ranh nghèo ở Bangla desh. Chúng ta phải phân tích xem, những thế hệ nghèo có cha truyền con nối hay người giàu hôm nay là con người nghèo đời trước. Sự tiến bộ xă hội là chiếc bánh ga tô càng ngày cảng phồng to để chia xẻ cho mọi người.

  7/ Tinh Thần tương ái c̣n đấy không ?

Thị trường đem lại giàu có. Giàu có không ban phát đều cho mọi người. Nhưng bằng những đường giây khác nhau, bằng những phương tiện khác nhau, của cải qua ngả liên đới xă hội cũng phân phối đến tay kẻ nghéo. “Ḷng từ bi”, “ḷng trắc ẩn” thủ cựu của thế giới Huê kỳ qua những nhà thờ nhắc nhở chúng ta một quan niệm tư nhiên của mọi tổ chức xă hội: đó là đạo đức, đó là luân lư: kẻ dư ăn dư mậc phải biết lo cho kẻ ngèo khó. Trong một thế giới giàu có, nhiều tổ chức, nhiều hội đoàn, nhiều hội thiện nguyện lo cho những người nghèo khó. Ở Huê kỳ những hội từ thiện mọc lên như nấm. Ở Pháp cũng thế. Nhà cầm quyền có thể giúp đở bằng những biện pháp thuế khóa để khuyến khích ḷng từ thiện của những người có của. Đó cũng là một cách gọt bớt sự cách biệt giàu nghèo, và cân bằng xă hội.

  Thế giới Anh Mỹ, anglo-saxon, thực tiễn hơn, với văn hóa tin lành, cộng đồng được giải thoát rất sớm khỏi những ảnh hưởng chuyên chế, độc tài nên dễ có những tổ chức thiện nguyện lo việc xă hội. Trái lại trong các quốc gia của thế giới âu châu cũ, với nhựng tập tục “Nhà nước chăm sóc” nhà nước lo cả, những đoàn thể thiện nguyện tự do tư nhơn không làm việc bằng những nhà thờ, v́ nhà thờ cũng là một loại nhà nước.

V́ vậy quan niệm “kinh tế thị trường xă hội” mặc dù đă được xữ dụng từ trên 50 năm nay ở Pháp ngày nay đă đi đến cái hạn chế của nó. Ngày mai cho Âu châu mở rộng chắc chắn một nền kinh tế kiểu   “Anh Mỹ” sẽ đem ra ứng dụng. Nó thực tiển hơn. Nhưng nó cũng cần phải có một thời gian huấn luyện để quan niệm dân chủ và quan niệm trách nhiệm được học nằm ḷng trong quần chúng. Các nước cựu Đông âu  chắc ǵ hiểu biết dân chủ đúng mức và ư thức trách nhiệm rơ ràng như Anh quốc hay Huê kỳ không ? Đạo đức, trách nhiệm, chia sẻ, tương ái có đủ bao bọc cho một chương tŕnh xă hội đầy tương ái ?

Bài nầy xin đóng góp một vài suy nghĩ cho những người làm kinh tế, làm việc xă hội. Người Việt trong nước hay ở hải ngoại thường mơ làm một cái ǵ cho Việt nam. Mỗi giấc mơ đều bị hạn chế, bởi thực tế.

 Việt nam có truyền thống “lá lành đùm lá rách”. Làng xă từ ngàn xưa có chế độ cấp ruộng đất cho những người nghèo khó để họ tự sanh sống. phải chăng điều nầy mang ư nghĩa như chế độ “An Sinh Xă hội” ngày nay ?

  Thiết tha mong những người Việt nam ái quốc có trách nhiệm lănh đạo đất nước hôm nay, hay ngày mai sẽ có khả năng t́m được con đường có Tự do, Dân chủ để Phát triển xă hội.

  Hồi Nhơn Sơn, Hè 2005

Phan Văn Song   

Ghi Chú:

Michel Albert : Capitalisme contre Capitalisme, coll Points, ed du Seuil, Paris 1998

Michel Albert : Une nouvelle Économie sociale de Marché ? Futuribles, 2003, n° 287

Friedrich A von Hayek : Droit Législation  et Liberté,  tome 2,  Les Illusions de la justice sociale, P.U.F. Paris 1981

Michael Novak : Une Éthique économique, Les valeurs de l’économie de marché ed le Cerf  La Boëtie 1987

John Rawls : Une théorie de justice  coll Livre de Poche, Hachette  1997 ;

www.libres.org : Dossier :  Justice sociale, université d’été 1991

www.forumslions.net L’Europe de l’esprit et du cœur  (n°544),Reconstruire les solidarités(n°549), Droits de propriété, devoirs de propriété (n°557)