Kinh Tế Thị trườn
Hiến Ước Âu châu 1 : 3
Nhưng dù thế nào đi nữa 25 quốc gia thành viên
Liên Âu cũng phải ngồi lại với nhau để
t́m cho được một mẫu số chung về
tổ chức xă hội,mẫu số kinh
tế, để
trả lời những bài toán nan giải về công ăn
việc làm ( tạo việc làm để đơn
thuần chống thất nghiệp không giải quyết
được vấn đề tạo việc và xây
dựng hệ thống tay nghề), vấn đề phát
triển đồng bộ cân bằng, vấn đề
điều ḥa những điều kiện để phát
triển, nghề nghiệp hóa việc
làm, vấn đề phụ túc liên đới, dân sinh, xă
hội.. Quan trọng là một nền kinh
tế thị trường xă hội phải được
dựa trên ba cột
trụ xă hội : Giáo dục (cưởng bách và
miển phí cho đến có tay nghề) ; Y tế (miển
phí-với một mạng lưới đi đến
cấp huyện), Hưu trí và tuổi già được
che chở ; nhưng vẫn giữ phần tiên tiến
về mặt kỹ thuật, cạnh tranh, nghiên cứu ..
do luật thị trường đ̣i hỏi.
Nếu quan
niệm Kinh tế thị trường Xă hội vẫn chưa
có một tương lai rơ ràng cũng v́
trong quá khứ, quan niệm ấy cũng thiếu một
lịch sử trong sáng. Từ ngữ nầy là một
sự vá víu không vững vàng giữa những quan điểm
khác nhau. Người đầu tiên đưa từ
ngữ ấy vào chánh trường đă sử dụng như
một khẩu hiệu tranh
cử. Đó là ông Thủ tướng Đức,
Tiến sĩ Ludwig Erhard.
Vào những năm ’50, ông được xem như là
người cha đẻ của phép « mầu nhiệm
(kinh tế) Đức », ông cũng là vị kinh
tế gia lỗi lạc, giáo sư của Đại
học Fribourg với
lư thuyết « ordo libéralismus »,
một lư thuyết kinh tế, mô tả
một nền kinh
tế tuy được
gọi là « tự do » nhưng
được ông đóng khung trong những « luật
lệ chặc chẽ ». Để tranh cử, và để
chống lại những đôi thủ thuộc Đảng
Xă hội đang đ̣i hỏi
nới rộng những quyền hạn và vai tṛ
kiểm soát của Nhà Nước dể sửa sai những kết
quả của một chế độ kinh tế « Tư
bản tự do» bằng những luật «công bằng xă
hộỉ », ông bèn dùng một xảo thuật
nghề nghiệp : Từ ngữ « xă hội »
được ngay Ngài Thủ tướng, giáo sư kinh
tế đại tài xữ dụng để chận đứng
những đ̣n lư luận của các đối thủ
của ông. Và ông chứng minh rằng « không ǵ xă
hội bằng kinh tế thị trường ! » và
ông ráp ngay Kinh tế thị trường với tĩnh
từ Xă hội. Nếu thoạt đầu chỉ là
một khẩu hiệu tranh cử, với tài nghệ
của ông, từ ngữ nầy biến thành một ư
thức hệ, một quan niệm kinh tế, một trường
phái kinh tế. Với những bài nhận định, phân
tích khoa học để tạo một
sự tin tưởng rộng răi trong dân chúng, từ
ngữ nầy đă biến thành một chủ
thuyết.
2/Chủ thuyết Kinh tế thị trường
xă hội nói ǵ ?
Thị trường tự do để tạo sự giàu có và phát triển trước, sau đó để tổ chức Xă hội ? Hay
Tư do và Xă hội song song với một sự phát triển đồng bộ, mặc dù có chậm hơn.
(Nước Anh phái Tự do với Tổng sản lượng/ đầu người 27 000 US$, Chỉ số phát triển 2,8%, Chỉ số thất nghiệp 5% ; so sánh với nước Pháp, phái Tự do Xă hội : TSL/Ng 24 000 US$, Pt 1%, thất nghiệp 10%)
3/ Công Bằng Xă hội là ǵ
?
Cái khó khăn là làm sao cắt nghĩa được “công
bằng xă hội”. Ai
cũng mơ có công bằng xă hội, từ thuở khai
thiên lập địa, nhà lănh đạo quần chúng nào,
nhà tiên tri nào cũng nói đến “công bằng xă
hội”. Ai mà không có một giấc mơ có một xă
hội công bằng hơn, có một nền công lư trong sáng
hơn để mỗi người đều có một
chổ đứng , một địa vị xứng đáng
với nhân phẩm của ḿnh, và có cùng một cơ
hội và những điều kiện chung để hưởng
mọi phát triển khoa học kỷ thuật ? Nhưng
đó là một khái niệm trừu tượng, khó khăn
nhiều khi dẫn đến những bài giải hoàn toàn
trái ngược nhau.
Thoạt
tiên, quan niệm của Aristote (-384 / -322) chia công lư thành
hai loại: công lư chỉnh lưu và công lư phân phối
(justice commutative et justice distributive). Một loại là
mỗi ngựi chỉ
nhận những ǵ mỗi chúng ta đem lại nghĩa là
“công lư được hưởng theo công đức”.
Loại thứ hai “công lư
được trả theo nhu cầu”, nghĩa là tùy theo
mỗi hoàn cảnh, mỗi người được
hưởng phần công lư đó. Ai đúng ai sai? thế
nào là công bằng? Aristote và sau đó Thomas d’Aquin (Saint)
(1228 – 1274) trả lời rằng tùy trường hợp,
tùy điều kiện của khế ước cá nhơn
hay cộng đồng . Trong một văn kiện khế
ước, không nên làm thiệt tḥi lẫn nhau, mỗi
việc phải được trả giá đúng mức.
Nhưng trong một công đồng, cũng như trong
một gia đ́nh chúng ta cũng dễ hiểu là mỗi
người chỉ nhận một phần tối thiểu
đúng với phần do lượng ước cá nhơn.
Sai
lầm to! V́ tât cả những nỗ lực để
đem lại những chia sẻ công bằng đều vô
vọng. Triết lư gia nỗi tiếng John Rawls, sau
những năm nghiên cứu, đi đến kết
luận: công bằng xă hội chỉ thực hiện
được “khi nào người ta ban phát tối đa
cho những người thiệt tḥi nhứt (có ít
nhứt), nhưng vẫn giữ được mức tăng
trưởng chung ở mức độ cao nhứt cho toàn
thể mọi người” . John Rawls nhận thấy
rằng lấy của người nầy để chia cho
kẻ khác không phải là cách làm, v́ không có phát
triển, và sau cùng tất cả đều nghèo khó
lần lượt: những ư thức hệ san bằng cách
biệt trong xă hội đều bị phá sản ở
mọi nơi, mọi người b́nh đẳng là
một tư tưởng không tưởng. Chúng ta phải
biết tổ chức lại cuộc phân chia, một cách
khôn khéo, để sự san bằng có thể được
chấp nhận ở mọi người. Nhưng đâu là
mức “tối thiểu” (hay là cái “tối đa”
của những người có “tối thiểu”).Không
ai trả lời được , cả John Rawls, cả nhà
giải thưởng Nobel kinh tế 1998 Amartya Sen (1933 -
), người đă từng bỏ công nghiên
cứu, chưa ai tính được một bài giải
vừa ḷng cả mọi người – “kẻ nhận
vẫn cảm thấy chưa đủ - kể cho thấy
đă quá thừa rồi”.(Thật là tâm trạng: “cho
cũng nhiều nhưng nhận chẳng bao nhiêu”)
Frederich Von Hayek đề nghị một cái nh́n
khác. Có vẽ hợp t́nh hợp lư hơn, có vẽ “công
bằng “ hơn. Ông đề nghị lựa chọn
giữa “công bằng trong kết quả” hay “công
bằng trong thủ tục”. Bởi làm sao đo lường
được kết quả? (giữa
những san bằng do trao đổi, bù trừ). Chúng ta
thử nhin vào một khía cạnh khác: thủ tục:
bằng cách ǵ, chúng ta đánh giá? Trong phương pháp
nầy, chúng ta không c̣n đánh giá con số người
nghèo với con số người giàu để đo lường
được sự bất công hay mất thăng
bằng của một xă hội. Chúng ta phải đo
lường bằng những thủ tục ǵ để nói
đó là người giàu
(hoặc người nghèo) ? Trong một xă hội mà
một luật rừng được áp dụng, kẻ
thắng là kẻ có sức mạnh, kẻ giàu là kẻ
cầm quyền, tịch thu, cướp giựt, tham nhũng
, xă hội đó đương nhiên là một xă hội
kém công bằng. Tài sản, sự giàu có của các nhà
độc tài, của một nhóm mafia, băng đảng,
bạn bè, đoàn thể, đảng viên không phải là
những sự giàu có trong lương thiện, trong công
bằng xă hội. Vậy th́:
4/Kinh
tế Thị Trường , làm giàu
trong “công bằng” ?:
Làm
kinh doanh qua kinh tế thị trường có phải là cách
làm ăn lương thiện, làm giàu trong công bằng ?
Có
kẻ cho rằng làm ăn theo kinh tế thị trường
là một cách làm ăn có tính cách bóc lột, lợi
dụng.
Cũng
có người bảo rằng làm ăn theo kinh tế
thị trường là chuyện không thể không làm
được, bất khả kháng, cái đường
phải đi bắt buộc.
Nhóm
thứ nhứt nói rằng kinh tế thị trường
do dân nhà giàu bóc lột dân nghèo để càng ngày càng giàu
hơn. Liên hệ không cân bằng giữa “sức lao
động” và “của cải”. Quan hệ bất công
nầy do nhiều nguyên nhơn tạo thành. Đệ
tử của Marx nói đấy là do của
tính cách “tư hữu”của “Tiền Vốn” (Tư
bản) V́ là quan niệm “đầu tiên” của đầu
tư là “tiền đâu”,
Tiền Vốn, hay Chủ Vốn đóng một vai tṛ
tối ưu trong tiến tŕnh sản xuất. Sự
mầt cân bằng giữa “kẻ có vốn – có
tiền bỏ vốn bỏ tiền” và những kể không
có ǵ cả, ngoài “sức lao động”. Người
bỏ vốn, chủ nhơn, với thế thượng
phong của tiến bạc, bóc lột kẻ làm công
trả lương không tương xứng với sức
sản xuất thực sự. Sự cách biệt, gọi là
lợi nhuận, chủ nhơn hưởng trọn.
Làm
ǵ có chuyện đó! các đệ tử của trường
phái thị trường tự do nhao nhao phản đối.
Theo họ, khế ước là một trao đổi
bổ sung luởng lợi. Kẻ chín phân người tám
lạng. Mỗi người sẽ t́m trong đối
thủ ḿnh một đối tượng để trao
đổi những dị biệt bổ sung cho nhau.Nếu
ta phân tích các trao đổi tự nguyện, chúng ta
sẽ thấy sự bổ sung của những dự tính
rất chủ quan về quyền lợi trong sự lưạ
chọn. Hăy nghĩ tới chuyện trao đổi giữa
anh mù và anh què (“anh là cặp chơn của tôi và tôi là
cặp mằt của anh”, và anh què được anh mù
cỏng đi chơi) Frédéric Bastiat (1801 -1850) cho rằng
thị trường là nơi trao đổi mà mọi người
đều có lợi. Và Tư sản không phải là
nguồn của sự bóc lột mà là phương
tiện giúp chúng ta để chúng ta gặt hái những thành
quả có thể trao đổi với những sáng
tạo của những tư sản khác. Như vậy Tư
sản là công bằng, Tư sản giúp chúng ta sáng
tạo, đó là một sự ích lợi.Vi sáng tạo
sử dụng cho nhu cầu của kẻ khác. Ngày nay ta thường
nói khế uớc là lưởng lợi, là synallagmatique,
hay Win-Win.
Thị
trường là một sự cưỡng bách, đầy
sức sống.Thị trường buộc chúng ta mỗi
người phải suy nghĩ để làm sao có những
sáng tạo để phục vụ nhu cầu của
kẻ khác, và cũng sẳn sàng tiếp nhận những
sáng tạo của kẻ khác. Và nếu chúng ta nhận
địng rơ ràng rằng sự “Giàu có” “của
cải”, “tài sản” không
phải là một “lô hàng hóa chất đống một
cách vô hiệu lực” , mà là những “sáng tạo”
để phục vụ “nhu cầu” của công đồng,
th́ “Thị trường” là nơi có “công bằng” xă
hội.
5/Làm sao xóa
đói giảm nghèo:
Biết
rằng thị trường là công bằng, và chúng ta
đă nhận định vậy, chúng ta làm sao quên
được những hệ quả của nó, chúng ta làm
sao không thấy những người v́ bất tài hay v́ không
may bị thị trường bỏ quên hay đặt bên
lề của một xă hội
do lợi nhuận tạo thành ?Vi vậy quan niệm
kinh tế thị trường xă hội mới được
nghĩ tới: quan niệm nầy đề nghị
những kết quả của thi trường phải
được “kiểm soát” “dung ḥa” “sửa
saỉ”. Dung ḥa sửa sai là những quan niệm rất
“kinh tế chỉ đạo”, nhưng ở đây
được sử dụng để tổ chức
một kinh tế, để kiểm soát một thị trường,
để tránh sự bất công trên thị trường
lao động. Nhà cầm quyền phài lănh phần chỉ
đạo ấy. Nhà làm luật phải tiên liệu
một khuôn khổ luật lệ để tạo ra
những khế ước quy định những liên
hệ khế ước cộng đồng nghề
nghiệp (conventions collectives) tránh những khế uớc cá
nhơn (contrats individuels). Người ta vẫn ngại
những sự cạnh tranh vô tổ chức. Nhà cầm
quyền phải có bổn phận tạo một sự
cạnh tranh công bằng. Không nên có những xí nghiệp
quá lớn, độc tôn, độc quyền giữ
một quyền “sanh sát” đối với thị trường
lao đông. Không nên có nhửng thị trường “phá
giá sức lao đông” (dumping salarial) phá giá bằng
những thuế xă hội ( dumping sur taxes sociales) phá giá
bằng những biện pháp thuế vụ ( dumping fiscal).
Khu vực nào gặp khó khăn? (ở Pháp Nông nghiệp,
hay kỷ nghệ May mặc) chúng ta hăy giúp đở nâng
đở bằng trợ cấp, bắng giúp đở,
bằng tái cấu tạo ( restructuration) bằng sáng
kiến kỹ thuật, v..v. Tái phố trí, cân bằng,
kiểm soát để điều ḥa thị trường
chưa đủ, nhà cầm quyển phải biết phân
phối lại tài sản: bằng thuế vụ nhà
cầm quyền gọt dủa bớt những tài sản
lớn (Đánh thuế những
nhà giàu : Impôt sur la fortune) để trợ cấp nhà nghèo.
Mục
đích Xă hội đă giết chết Kinh tế .
Vậy
th́ làm sao dung ḥa được Kinh tế và Xă hội ?
6/Tiến
bộ xă hôi: phát triển kinh tế và tinh thần tương
ái.
Và
chúng ta trở lại với Ludwig Erhard, với quan niệm
“Kinh tế thị trường xă hội”. Khi một
chế độ kinh tế được đặt trên
nền tảng có một khế ước tự do,
có một sự tư do kinh doanh và có một nền tài
sản tư hữu, chế độ ấy sẽ đem
lại sự tiến bộ xă hội và sự trách
nhiệm liên đới xă hội.
Phân
tích kỹ qua thống kê
chúng ta sẽ thấy nền
kinh tế tự do và sự tiến bộ xă hội
được cột chặc với nhau một cách
tự nhiên:
Kinh
tế thị trường tự do đem lại sáng
kiến, đó là điều tất yếu. Sáng kiến
đem lại tiến bộ vế mặc kỹ thuật,
tạo những nhu cầu mới với những phương
tiện mới. Không gian kinh tê do kỹ thuật mới
sẽ tạo những sự bổ sung mới. Sự
cạnh tranh là một động cơ để đoạt
thành tích.
Thống
kê cũng đo lường được là những
quốc gia nghèo thường là những quốc gia
thiếu tự do, với mức tăng trưởng kém. Trong
một quốc gia giàu, sự cách biệt giàu nghèo sẽ
dần dần được xóa bỏ rất nhanh.
Bực thang giai cấp không c̣n một
vấn đề nữa. Mặc dù người giáu và người
nghèo vẫn c̣n, nhưng ư niệm ấy phải được
suy diễn trong phạm vi của thế giới quốc gia
ấy. Làn ranh nghèo
(seuil de pauvreté) ở Huê kỳ khác lằn ranh nghèo
ở Bangla desh. Chúng ta phải phân tích xem, những thế
hệ nghèo có cha truyền con nối hay người giàu hôm
nay là con người nghèo đời trước. Sự
tiến bộ xă hội là chiếc bánh ga tô càng ngày
cảng phồng to để chia xẻ cho mọi người.
Thị
trường đem lại giàu có. Giàu có không ban phát
đều cho mọi người. Nhưng bằng những
đường giây khác nhau, bằng những phương
tiện khác nhau, của cải qua ngả liên đới xă
hội cũng phân phối đến tay kẻ nghéo. “Ḷng
từ bi”, “ḷng trắc ẩn” thủ cựu của
thế giới Huê kỳ qua những nhà thờ nhắc
nhở chúng ta một quan niệm tư nhiên của mọi
tổ chức xă hội: đó là đạo đức,
đó là luân lư: kẻ dư ăn dư mậc phải
biết lo cho kẻ ngèo khó. Trong một thế giới giàu
có, nhiều tổ chức, nhiều hội đoàn,
nhiều hội thiện nguyện lo cho những người
nghèo khó. Ở Huê kỳ những hội từ thiện
mọc lên như nấm. Ở Pháp cũng thế. Nhà
cầm quyền có thể giúp đở bằng những
biện pháp thuế khóa để khuyến khích ḷng
từ thiện của những người có của.
Đó cũng là một cách gọt bớt sự cách
biệt giàu nghèo, và cân bằng xă hội.
V́
vậy quan niệm “kinh tế thị trường xă
hội” mặc dù đă được xữ dụng
từ trên 50 năm nay ở Pháp ngày nay đă đi đến
cái hạn chế của nó. Ngày mai cho Âu châu mở
rộng chắc chắn một nền kinh tế kiểu
“Anh Mỹ” sẽ đem ra ứng dụng. Nó
thực tiển hơn. Nhưng nó cũng cần phải có
một thời gian huấn luyện để quan niệm dân
chủ và quan niệm trách nhiệm được học
nằm ḷng trong quần chúng. Các nước cựu Đông
âu chắc ǵ hiểu
biết dân chủ đúng mức và ư thức trách
nhiệm rơ ràng như Anh quốc hay Huê kỳ không ? Đạo
đức, trách nhiệm, chia sẻ, tương ái có
đủ bao bọc cho một chương tŕnh xă hội
đầy tương ái ?
Bài
nầy xin đóng góp một vài suy nghĩ cho những người
làm kinh tế, làm việc xă hội. Người Việt
trong nước hay ở hải ngoại thường mơ
làm một cái ǵ cho Việt nam. Mỗi giấc mơ đều
bị hạn chế, bởi thực tế.
Việt
nam có truyền thống “lá lành đùm lá rách”. Làng xă
từ ngàn xưa có chế độ cấp ruộng đất
cho những người nghèo khó để họ tự
sanh sống. phải chăng điều nầy mang ư nghĩa
như chế độ “An Sinh Xă hội” ngày nay ?
Phan Văn Song
Ghi
Chú:
Michel Albert : Capitalisme contre Capitalisme, coll Points, ed du Seuil, Paris 1998
Michel Albert : Une nouvelle Économie sociale de Marché ? Futuribles, 2003, n° 287
Friedrich A von Hayek : Droit
Législation et Liberté,
tome 2, Les Illusions de la justice sociale, P.U.F. Paris 1981
Michael Novak : Une Éthique économique, Les valeurs de l’économie de marché ed le Cerf La Boëtie 1987
John Rawls : Une théorie de justice coll Livre de Poche, Hachette 1997 ;
www.libres.org : Dossier : Justice sociale, université d’été 1991
www.forumslions.net
L’Europe
de l’esprit et du cœur (n°544),Reconstruire
les solidarités(n°549), Droits de propriété, devoirs de propriété (n°557)