Mang đất của tổ tiên đi cống hiến
Ngô Nhân Dụng
NV, 8/2/02
Khi nh́n thấy những điều mờ ám, khuất
tất trong việc đảng Cộng Sản Việt Nam kư
các Hiệp ước Biên giới với Trung Quốc, và
những thiệt tḥi hiển nhiên mà dân tộc Việt
Nam phải chịu, mọi người Việt Nam yêu nước
và tranh đấu cho dân chủ phải tự hỏi:
Tại sao họ phải làm như vậy? Tại sao có
những người lănh đạo đảng Cộng
Sản Việt Nam cam tâm gánh lấy tội bán nước
mà không t́m cách nào tŕ hoăn, lảng tránh để
khỏi mang mối nhục ngàn đời đó?
Mục này đă nêu lên nhiều giả thuyết về
động cơ của hành động kư kết vội
vă những bản hiệp ước biên giới. Nhưng
có các lư do chính thức đă được ông Lê Công
Phụng, Thứ trưởng Ngoại giao chủ tŕ các
cuộc đàm phán về biên giới, nêu ra trong bài "phỏng
vấn" do cơ quan VASC Orient của đảng
đưa lên mạng lưới điện toán toàn
cầu.
Ông Lê Công Phụng nhấn mạnh đến nhu cầu
ổn định để phát triển kinh tế, v́
biết phát triển kinh tế là mối lo lắng của
tất cả mọi người Việt Nam ngày nay, sau hơn
nửa thế kỷ bần cùng hóa v́ hệ thống kinh
tế cộng sản. Ông Lê Công Phụng nói tới nhu
cầu "... làm sao mà duy tŕ được ổn định
nhằm phát triển kinh tế." Ông nhắc lại
một lần nữa "... yêu cầu của nhân dân
Việt Nam là làm sao có đường biên giới ḥa b́nh,
hữu nghị và ổn định với các nước
láng giềng; v́ chỉ có vậy chúng ta mới tập
trung được sức lực để xây dựng, phát
triển ..."
Bây giờ phải đặt một câu hỏi để
mọi người cùng suy nghĩ: Hiệp định biên
giới có thật sự cần thiết, không có không
được, để dân ta sống ổn định
và phát triển kinh tế hay không?
Để trả lời câu hỏi đó, chúng ta tự
hỏi, nếu chính quyền cộng sản Việt Nam không
hấp tấp kư các hiệp ước vào cuối năm
1999 và 2000 theo lời yêu cầu của Bắc Kinh, th́
liệu nước Việt Nam có bị mất ổn định
hay không? Nói cách khác, liệu Cộng Sản Trung Quốc có
xâm lăng hoặc gây hấn nơi biên giới làm đời
sống dân ta mất ổn định hay không?
Câu trả lời chắc chắn là: Không.
Trên thế giới ngày nay, một cường quốc như
Trung Hoa cũng không thể đem quân xâm phạm lănh
thổ một nước láng giềng nhỏ yếu
chỉ v́ căi nhau về mấy trăm cây số đường
biên giới. Nếu Trung Quốc làm như vậy, tất
cả các cường quốc kinh tế khác sẽ
phản đối. Hoa kỳ, Nhật Bản, Nga, và các nước
trong Liên hiệp Âu châu sẽ chống đối bằng
những hành động cụ thể như ngưng giao
thiệp, không buôn bán, không đầu tư. Các nước
nhỏ vùng Đông Nam và khối ASEAN càng nghi ngờ và lo
sợ về mưu đồ bành trướng của
Bắc Kinh, họ sẽ t́m cách lánh xa. Chính quyền
cộng sản Trung Quốc phải nh́n thấy hành động
xâm lược Việt Nam chỉ mang lại mối lợi
quá nhỏ so với những hậu quả gây thiệt
hại nhiều hơn. Và họ sẽ không bao giờ xâm
lăng như vậy!
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm cuộc tranh
chấp biên giới, kéo dài hàng thế kỷ chưa
được giải quyết. Sau Đại chiến
Thứ hai, sau khi khối cộng sản Đông Âu sụp
đổ, đều nẩy sinh ra các cuộc tranh tụng
về biên giới. Giữa Nhật Bản và Liên xô (Cộng
Ḥa Nga ngày nay). Giữa các nước Đức và Tiệp,
Áo và Hungary, Bulgari và Rumani, v.v... Nhưng không chính quyền
nào nêu lư do "phát triển kinh tế" rồi vội
kư kết những hiệp ước biên giới để
mua sự ổn định giả tạo. Ông Lê Công
Phụng nói rằng những vùng ven biên có dân Trung Hoa
đă sang lập nghiệp ở nước ta th́ phải
cho sáp nhập vào Trung Quốc. Nhưng ở trong các nước
Ba Lan, Hungary, Cộng Ḥa Tiệp đều có hàng trăm
ngàn đến hàng triệu người Đức sinh
sống, không phải v́ thế mà các chính phủ này
chịu nhường đất cho nước Đức. T́nh
trạng biên giới mập mờ đó có khiến cho
những nước trên mất ổn định và không
thể phát triển kinh tế hay không? Không. Từ khi thoát
khỏi chế độ cộng sản, kinh tế các nước
Tiệp, Hung, Ba Lan và Đông Đức cũ đă phát
triển mạnh mẽ.
C̣n thứ bất ổn định nào khác?
Phải chăng chính quyền cộng sản lo ngại
về các đoàn quân buôn lậu đem hàng hóa vượt
biên tràn ngập Việt Nam? Đây là một vấn đề
địa phương, các chính quyền địa phương
phải giải quyết, đặc biệt phải bài
trừ nạn tham nhũng ở địa phương,
cả hai bên biên giới. Bao giờ hai chế độ
cộng sản ở Trung Quốc và Việt Nam dẹp
được tham nhũng th́ nạn buôn lậu sẽ
chấm dứt, dù có hay không có hiệp ước biên
giới mới. Ngược lại, dù có kư bao nhiêu
hiệp ước chăng nữa mà nạn tham nhũng
vẫn c̣n th́ dân buôn lậu vẫn làm chủ cả hai bên
biên giới.
Cuối cùng, lư do "ổn định để phát
triển" mà ông Lê Công Phụng đưa ra hoàn toàn vô
căn cự Lư do đích thực, thầm kín khiến
đảng Cộng Sản Việt Nam phải vội vă làm
vừa ư các lănh tụ ở Bắc Kinh là mối nợ
riêng của những người lănh đạo đảng
ở Hà Nội đối với các đàn anh Trung
Quốc. Từ khi Cộng Sản Liên xô và Đông Âu sụp
đổ, họ đă bám lấy Cộng Sản Trung Hoa làm
chỗ tựa để bảo vệ địa vị
độc quyền chính trị và độc quyền kinh
tế của các lănh tụ đảng. Tháng Chín năm
1989 Nguyễn Văn Linh đă dẫn Đỗ Mười,
Phạm Văn Đồng sang Thành Đô dể xin Trung Quốc
viện trơ Năm 1991 Lê Đức Anh, Đỗ Mười,
Vơ Văn Kiệt lại sang Trung Quốc xin ủng hô
Cứ tiếp tục như thế qua thời Lê Khả
Phiêu, Nông Đức Mạnh.
Phía Cộng Sản Trung Hoa, họ không có nhu cầu và
chẳng thấy lợi lộc nào trong việc nối
lại bang giao với Việt Nam. Ngay trong việc bảo
vệ chủ nghĩa cộng sản ở Trung Hoa họ cũng
chỉ nói ngoài miệng. Từ thời Đặng Tiểu B́nh
tới Giang Trạch Dân đều đă chọn tư
bản hóa dần dần nước Trung Hoa rồi. Họ
không cần đến "t́nh huynh đệ quốc
tế vô sản" của các ông Đỗ Mười, Lê
Khả Phiêu nữa! Cộng Sản Việt Nam lúc đó
đă thất bại đau đớn ở Cam Bốt,
đang bị cô lập với cả thế giới v́ xâm
lăng Cam Bốt, cũng chẳng có thế lực nào
để giúp Trung Quốc trên trường ngoại giao
quốc tế. Ngược lại, các lănh tụ ở
Bắc Kinh c̣n xúi dại Cộng Sản Việt Nam
tiếp tục tŕ hoăn việc bang giao và thương
mại với Mỹ, trong lúc chính Bắc Kinh t́m mọi cách
làm thân với Washington và kư hiệp định mậu
dịch với Mỹ trước.
Cộng Sản Việt Nam đi cầu viện với
thế yếu như vậy, th́ Cộng Sản Trung Hoa
biết đ̣i hỏi những ǵ để đổi
lại việc họ ủng hộ chế độ Hà
Nội? Ngược lại, Cộng Sản Việt Nam
biết đem cống hiến những ǵ để đổi
lấy sự hỗ trợ của Trung Quốc?
Quư vị có thể suy ra câu trả lời.
Chẳng có ǵ hết ngoài đất đai của tổ
tiên để lại.
Ngô Nhân Dụng