Nguyên Nhân và Hậu Quả của Vấn Đề
Nhường Đất và Lănh Hải cho Trung Quốc
Đoàn Hùng
(VNN) Với bản chất
lệ thuộc Trung Quốc, trong cuộc điều đ́nh
về biên giới và lănh hải, sự nhượng
bộ của đảng CSVN là điều dĩ nhiên. Nhưng
những lư do thầm kín nào đă đưa đến
việc giới lănh đạo Hà Nội có những
sự nhượng bộ đáng kể, dẫn đến
những hậu quả tai hại lâu dài cho đất nước
và dân tộc? Ngày 19 tháng 6 năm 2000, Quốc Hội
Cộng Sản Việt Nam đă công bố nghị
quyết về "Hiệp Ước Biên Giới Trên
Đất Liền Giữa Việt Nam và Trung Quốc"
được thông qua tại kỳ họp thứ 7,
quốc hội khóa X họp từ ngày 9 tháng 5 năm đến
ngày 9 tháng 6. Bốn tháng sau, ngày 25 tháng 10 năm 2000,
tại Bắc Kinh đại diện của hai nhà nước
CS Việt Nam và Trung Quốc đă kư "Hiệp Định
Phân Định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định
Hợp Tác Nghề Cá Giữa Hai Nước Trong Vịnh
Bắc Bộ". Nội dung của hai văn kiện này
cho đến nay chưa được CSVN phổ biến
công khai nhưng lại chỉ thị cho các cơ quan liên
hệ tiến hành việc thiết lập những
nghị định thư phân giới, cắm mốc và xác
định bản đồ chi tiết. Trong tiến tŕnh
thực thi Hiệp Ước Biên Giới và Hiệp
Định Phân Chia Vùng Vịnh Bắc Bộ, những nhà
đối kháng tại VN đă phát giác ra nhiều điểm
phi lư trong nội dung đă kư, đặc biệt là
nhiều phần đất trước đây nằm bên
phía Việt Nam nay lại thuộc về phía Trung Quốc.
Nhiều nhà đối kháng và cả một số đảng
viên đảng CSVN cho đây là hành động "bán
nước" của tập đoàn lănh đạo Hà
Nội.
Ngay sau khi kư các Hiệp Ước Biên Giới và Hiệp
Định Phân Chia Vùng Vịnh Bắc Bộ, Hà Nội
đă tung ra một loạt các văn kiện giải thích
và tŕnh bày tiến tŕnh đàm phán để đi đến
việc kư kết nói trên. Tuy nhiên qua nội dung các bài
viết của Thứ Trưởng Ngoại Giao CSVN Lê Công
Phụng đăng trên Tạp Chí Cộng Sản số tháng
1 năm 2001 hoặc bài giải thích đăng trên tạp
chí Tư Tưởng Văn Hóa của đảng Cộng
sản Việt Nam chỉ nói lư do kư kết là để
đáp ứng "nhu cầu củng cố ḥa b́nh và
ổn định khu vực", hoàn toàn không đá
động ǵ đến chủ quyền và quyền
lợi của Việt Nam.
Điều thấy rơ nhất là qua Hiệp Định Pháp -
Thanh kư vào ngày 26 tháng 6 năm 1987 khi nước ta
bị mất chủ quyền vào tay người Pháp,
lằn ranh phân định Vịnh Bắc Bộ vào lúc
đó được chia là 60% cho Việt Nam và 40% cho nhà
Thanh. Theo sử liệu, Vịnh Bắc Bộ có diện tích
126.250 km2, chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 310 cây
số và nơi hẹp nhất khoảng 20 cây số. Dưới
thời Pháp thuộc, chính quyền Pháp và nhà Thanh bên Trung
Hoa đă thỏa thuận lấy đường kinh
tuyến Paris 105o43 - Đông (kinh tuyến Greenwich 108o03-13"
Đông) để quy định chủ quyền của các
đảo ở khu vực sát cửa sông Bắc Luân.
Vậy mà nay, theo Hiệp Định Phân Định Vịnh
Bắc Việt th́ Việt Nam chỉ được
53,23% diện tích trong khi Trung Quốc được 46,77% vùng
Vịnh. Điều này cho thấy là Việt Nam đă
mất cỡ 7% diện tích Vịnh Bắc Bộ theo
sự phân định mới.
Trong khi đó, qua hiệp ước về biên giới,
Cộng Sản Việt Nam đă phải nhượng
bộ để cắm các trụ biên giới sâu vào lănh
thổ Việt Nam v́ "nhu cầu thiết lập"
các cửa khẩu giữa hai nước. Nói cách khác,
Trung Quốc đă lấy lư cớ quản lư những cư
dân của họ sống bất hợp pháp trên những vùng
đất của Việt Nam mà họ đă tự động
thiết lập các chợ trời "biên giới"
để buộc Hà Nội phải công nhận đó là
những phân giới của các cửa khẩu. Hiện nay
ta chưa biết rơ là có bao nhiêu diện tích vùng biên
giới bị Hà Nội dâng nạp cho Bắc Kinh; nhưng
với gần 15 cửa khẩu đang giao thương
giữa Việt Nam và Trung Quốc, th́ số diện tích mà
nước ta bị mất qua hiệp ước biên
giới không phải là con số nhỏ. Theo Luật sư
Lê Chí Quang trong bài viết "Hăy cảnh giác Bắc
Triều" th́ hiệp ước biên giới đă làm
thiệt hại nước ta cỡ 720 km2. Cộng Sản
Việt Nam lại dâng nạp lănh thổ nước ta cho
Trung Quốc để làm ǵ và hậu quả của nó
sẽ ra sao?
Những Nguyên Nhân Cần T́m Hiểu
Nh́n trên vị trí địa dư, Việt Nam ví như
cuốn phễu của Trung Quốc và cũng là địa
bàn cho Trung Quốc tỏa xuống phía Nam Thái B́nh Dương.
Do vị trí địa dư như vậy, Việt Nam
đă liên tục bị nhiều triều đại
của Trung Quốc xâm lăng và bản đồ biên
giới đă nhiều lần bị xóa hay vẽ đi
vẽ lại. Măi cho đến năm 1885 và 1887, ranh
giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mới được
phân định rơ ràng hơn qua một công ước có
tên là "Công Ước Về Hoạch Định Biên
Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc" kư
giữa Pháp và Nhà Thanh của Trung Hoa. Suốt một
thế kỷ qua, Việt Nam v́ ch́m đắm trong
chiến tranh và nhất là kể từ năm 1945, khi
Hồ Chí Minh thiết lập chính quyền cộng sản
ở miền Bắc và lệ thuộc vào Trung Cộng cho
đến năm 1975 th́ vấn đề biên giới không
hề đặt ra. Mặc dù Trung Quốc đă ngang nhiên
xâm nhập nhiều vùng đất ở biên giới
hoặc chiếm cứ nhiều đảo tại Vịnh
Bắc Bộ như Bắc Kinh từng xua quân chiếm
đảo Trường Sa của Việt Nam Cộng Ḥa vào
năm 1974, Hà Nội vẫn im lặng không dám lên
tiếng. Lư do đơn giản là Cộng Sản Việt
Nam đă lệ thuộc vào Nga và Trung Quốc để t́m
sự hậu thuẫn cho chủ trương cộng
sản hóa miền Nam Việt Nam.
Sau năm 1975, Cộng Sản Việt Nam đi theo Liên Xô nên
bắt đầu gây hấn với Trung Quốc và hai bên
đă có những hục hặt về biên giới; nhưng
Cộng Sản Việt Nam hầu như không ngó ngàng ǵ
đến những vùng đất tranh chấp này. Lư do là
Cộng Sản Việt Nam đang bận tâm giải
quyết vấn đề Cam Bốt và những khó khăn
nội bộ. Hơn thế nữa, từ năm 1975 đến
năm 1990, tuy dựa vào Liên Xô cũ để giữ
quyền nhưng Hà Nội vẫn sợ các ảnh hưởng
của Trung Quốc. Hậu quả là nhiều vùng đất
biên giới của Việt Nam vào thời kỳ này đă
nằm trong sự "quản lư" của Bắc
Kinh. Sau khi khối Liên Xô tan ră, tháng 11 năm 1991,
Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng
đă đi Nam Ninh gặp Giang Trạch Dân và Lư Bằng
để nối lại quan hệ răng môi giữa hai bên
đă bị gián đoạn từ năm 1975. Kể
từ đó, hai bên đă có những trao đổi thân
thiện hơn v́ nhu cầu bảo vệ thành tŕ chủ
nghĩa xă hội trong cơn lốc tan ră khối cộng
sản. Xuyên qua những quan hệ này, Hà Nội đă coi
Bắc Kinh là mẫu mực áp dụng cho những cải
tổ kinh tế, xă hội để có thể kéo dài
sự tồn tại.
Trong bối cảnh này, Trung Quốc một mặt giúp
đỡ Cộng Sản Việt Nam duy tŕ quyền lực
qua một số những cố vấn về cải cách
kinh tế, mặt khác o ép Hà Nội phải chấp
nhận những lằn ranh biên giới mà Trung Quốc
đă "quản lư" từ nhiều năm qua. Tháng
2 năm 1999, khi Lê Khả Phiêu sang viếng thăm Bắc
Kinh, Giang Trạch Dân đă đưa ra chủ trương
"hai bên phải là láng giềng hữu nghị,
hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng
tới tương lai" để khuyến dụ Hà
Nội xúc tiến việc kư các hiệp định
về biên giới. Thay vào đó, Bắc Kinh sẽ giúp cho
Lê Khả Phiêu giữ vững quyền lực và chống
chọi với Hoa Kỳ trong những quan hệ mới sau
khi thương ước Mỹ - Việt được kư
kết. Lê Khả Phiêu nghiễm nhiên đồng ư và ra
chỉ thị cho phái đoàn Cộng Sản Việt Nam
sẵn sàng nhượng bộ để xúc tiến
việc kư các hiệp ước biên giới.
Để gia tăng sự tin tưởng cho phía Hà Nội,
cuối năm 1999, Giang Trạch Dân đă viếng thăm
Việt Nam trong 5 ngày và yêu cầu Lê Khả Phiêu cho xúc
tiến kư kết các hiệp ước biên giới. Thay vào
đó, phía Bắc Kinh đă hứa giúp cho Cộng Sản
Việt Nam rất nhiều điều như phát triển
khoa học kỹ thuật, hợp tác mạnh mẽ trong lănh
vực tài chánh, tiền tệ, giúp huấn luyện chuyên
viên nông nghiệp, hiện đại hóa về bưu chính,
viễn thông. Nhất là Bắc Kinh hứa sẵn sàng giúp
đỡ việc huấn luyện cán bộ tư tưởng
lư luận về xă hội chủ nghĩa mới cho cán
bộ đảng Cộng sản Việt Nam. Trước
sự "bảo đảm" mạnh mẽ
của Trung Quốc, Lê Khả Phiêu và lănh đạo đảng
Cộng Sản Việt Nam đă phải đẩy nhanh
đà "bán nước" bằng việc xúc
tiến kư kết những văn kiện như đă
đề cập bên trên trong năm 2000. Sau khi Hiệp
Ước Biên Giới và Hiệp Định Phân Định
Vịnh Bắc Bộ được kư kết, Bắc
Kinh và Hà Nội c̣n ra một bản tuyên bố chung để
xác định lại những thỏa thuận của hai
bên.
Trong bản tuyên bố chung kư vào ngày 25 tháng 12 năm 2000
giữa Bộ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc Đường
Gia Triền và Bộ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam
Nguyễn Dy Niên, có một điểm sau đây đáng lưu
ư: "Hai bên nhất trí cho rằng, việc hai nước
kư kết Hiệp Ước Biên Giới Trên Đất
Liền, Hiệp Định Phân Định Lănh Hải, Vùng
Đặc Quyền Kinh Tế và Thềm Lục Địa Trong
Vịnh Bắc Bộ, Hiệp Định Hợp Tác
Nghề Cá Ở Vịnh Bắc Bộ có ư nghĩa
lịch sử sâu rộng, sẽ thúc đẩy hơn
nữa quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác
toàn diện giữa hai nước phát triển mạnh
mẽ hơn trong thế kỷ 21. Hai bên cam kết sẽ
nghiêm chỉnh thực hiện các thỏa thuận liên quan
đă kư kết giữa hai nước, tích cực hợp
tác xây dựng biên giới hai nước thành biên
giới ḥa b́nh, hữu nghị, ổn định lâu dài".
Trong khi đó những xung đột về vấn đề
lănh hải tại hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa,
th́ tuyên bố chung chỉ nói một cách chung chung. Đó là "hai
bên khẳng định, tiếp tục duy tŕ cơ
chế đàm phán hiện có về vấn đề trên
biển, kiên tŕ thông qua đàm phán ḥa b́nh để t́m
ra một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên đều
có thể chấp nhận được". Điều
này cho thấy là Hà Nội đă không dám đặt
thẳng vấn đề chủ quyền của Việt
Nam trên lănh hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không
một người Việt Nam nào mà không biết rơ hai
quần đảo này đă bị quân Trung Quốc
chiếm vào năm 1974, vậy mà Hà Nội lại chấp
nhận đàm phán mà không có một thái độ nào
mạnh mẽ để đ̣i lại. Rơ ràng là qua
bản tuyên bố này cho chúng ta thấy là Hà Nội luôn
luôn ở thế yếu, ở thế khấu tấu
Bắc Kinh. Đó là nguyên nhân sâu xa đưa đến
việc "bán nước" của tập đoàn lănh
đạo đảng Cộng Sản Việt Nam.
Những Hậu Quả Của Các Hiệp Ước Biên Giới và Hiệp Định Vịnh Bắc Bộ:
Trong bài viết "Hiệp Định Phân Định
Vịnh Bắc Bộ và Hiệp Định Hợp Tác
Nghề Cá giữa Việt Nam và Trung Quốc"
của Thứ Trưởng Ngoại Giao Lê Công Phụng
đăng trên Tạp Chí Cộng Sản số tháng 1 năm
2001, có đoạn như sau: "Trong quá tŕnh đàm phán,
hai bên đă vận dụng các nguyên tắc như sau
để giải quyết: một là,
căn cứ vào các quy định của Công Ước
Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cũng
như các nguyên tắc luật pháp quốc tế và
tập quán được công nhận rộng răi; hai
là, hai bên tính đến các đặc thù của
Vịnh Bắc Bộ như sự hiện diện các
đảo, chiều dài bờ biển v,v...; ba
là, việc giải quyết vấn đề phân
định phải xuất phát từ thực trạng cũng
như nhu cầu phát triển quan hệ giữa hai nước;
bốn là, bảo đảm nguyên
tắc công bằng và chiếu cố có lợi ích của
nhau". Đọc qua những nguyên tắc dùng làm
nền tảng đàm phán, tại sao Hà Nội không đ̣i
hỏi phải dựa trên Công Ước Pháp - Thanh kư
vào năm 1887 về biên giới mà chỉ dựa vào Công
Ước Luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp
Quốc.
Chính v́ không dựa vào Công Ước Pháp - Thanh năm
1887, Lê Công Phụng mới khoe là qua đàm phán về
Vịnh Bắc Bộ, Cộng Sản Việt Nam được
53,23% diện tích vùng Vịnh, trong khi Trung Quốc chỉ
đạt 46,77% vùng Vịnh, tức là phía Việt Nam hơn
Trung Quốc khoảng 6,46% là khoảng 8205 cây số vuông.
Thật ra, nếu theo Công Ước 1887, Việt Nam
được 60% trong khi Trung Quốc chỉ được
40% và như vậy, diện tích vùng Vịnh của
Việt Nam phải hơn con số 8 ngàn cây số vuông.
Qua kết quả này Việt Nam đă hiến cho Trung
Quốc thêm 7% diện tích của ḿnh. Như vậy,
hậu quả đầu tiên qua Hiệp Định Phân Định
Vịnh Bắc Bộ, Việt Nam đă mất đất
vào tay Trung Quốc cỡ 9 ngàn cây số vuông.
Cũng qua Hiệp Định Phân Định Vịnh Bắc
Bộ, Cộng Sản Việt Nam đă kư hiệp định
đánh cá trên vùng này mà sự thiệt hại không
phải là chỉ cho Trung Quốc mở rộng vùng đánh
cá trong vùng vịnh mà c̣n giúp Trung Quốc có điều
kiện pháp lư để tiến xuống vùng biển phía
Nam của Việt Nam. Trong bài báo nói trên, Lê Công Phụng
viết rằng: "Trong quá tŕnh đám phán về phân
định Vịnh Bắc Bộ, phía Trung Quốc kiên tŕ
đề nghị lập vùng đánh cá chung đồng
thời với việc phân định Vịnh Bắc
Bộ và nhấn mạnh nếu không thỏa thuận
được vấn đề này th́ khó có thể
giải quyết được vấn đề phân định
Vịnh Bắc Bộ. Việt Nam không chủ trương
đàm phán về nghề cá mang tính kinh tế, kỹ
thuật với vấn đề phân định quốc
giới mang tính chiến lược lâu dài. Nhưng ta cũng
nhận thức rơ là việc không giải quyết
được vấn đề nghề cá có thể
dẫn đến hậu quả là khó giải quyết
vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ
trong năm 2000... Cho đến tháng 4 năm 2000, ta mới tán
thành đàm phán nghề cá. Qua 6 ṿng đàm phán cấp
chuyên viên về nghề cá, hai bên nhất trí lập vùng
đánh cá chung ở trong vùng Vịnh Bắc Bộ từ
vĩ độ 20o xuống đường đóng cửa
Vịnh".
Qua giải thích của Lê Công Phụng cho thấy là lúc
đầu Cộng Sản Việt Nam không muốn kư
hiệp định về nghề cá nhưng do "sức
ép" của Bắc Kinh nên Hà Nội đă phải xúc
tiến đàm phán và kư hiệp định nghề cá cùng
với hiệp định phân định Vịnh Bắc
Bộ. Chỉ qua sự "giải bày" của Lê
Công Phụng đủ thấy là Cộng sản Việt
Nam đă ở thế yếu và hiệp định
nghề cá mang đến hai hậu quả tai hại cho
Việt Nam trong lâu dài:
Kết Luận:
Nhiều nhà trí thức đối kháng ở trong nước
đă can đảm gióng lên tiếng nói phê phán về hành
động "bán nước" của tập
đoàn lănh đạo Hà Nội, nhất là Luật Sư
Lê Chí Quang đă cảnh giác chúng ta về họa Bắc
Triều. Sự cảnh giác này rất đúng v́ Hà
Nội đang nh́n về phương Bắc như mẫu
mực sống c̣n trong cơn dẫy chết của
chủ nghĩa xă hội. Tập đoàn Hà Nội đang
cần Bắc Kinh và coi Bắc Kinh là chỗ dựa về
mặt tinh thần lẫn vật chất, mặc dù đă
kư thương ước với Mỹ. Lư do đơn
giản là Hà Nội rất sợ Mỹ qua cái mà họ
thường hai rêu rao là "diễn biến ḥa b́nh".
Trong khi đi với Bắc Kinh, dù sao cũng là những "đồng
chí" của khối cộng sản c̣n sót lại và
nếu chế độ có tan ră vẫn c̣n là chỗ
chạy để thoát thân. Với bản chất của
một tập đoàn tay sai và đang cần Bắc Kinh
che chở, Hà Nội đă chuyển nhượng từng
phần đất cho Trung Quốc qua những hiệp ước
và hiệp định vừa kư kết.
V́ sợ dư luận chống đối, Cộng Sản
Việt Nam đă không dám công bố nội dung Hiệp
Ước Biên Giới và Hiệp Định Phân Định
Vịnh Bắc Bộ mà chỉ tiết lộ và
diễn dịch từng phần để trấn an dư
luận. Nhưng các nhà trí thức ở trong nước
đă can đảm vạch tội chế độ, chúng
ta tại hải ngoại không thể không tiếp tay làm
cho phong trào tố giác tội bán nước của
Cộng Sản Việt Nam lớn mạnh. Đây là nhiệm
vụ của chúng ta để giành lại những
phần đất thân yêu của Tổ Quốc đang
bị phương Bắc xâm chiếm.
Đoàn Hùng