Nhân Quyền, điều kiện tiên quyết để Phát triển Dân chủ tại Việt nam
Tiến Sĩ Phan Văn Song, Chủ Tịch Đại Việt Quốc Dân Đảng.
Vào tháng 6 năm 1993, nhằm cải thiện hiệu năng hoạt động của Liên hiệp Quốc về việc vận động và bảo vệ Nhân Quyền trên thế giới, và cũng để kỷ niệm 50 năm bản Tuyên ngôn quốc tế Nhân quyền, một Hội nghị Nhân Quyền thế giới kỳ ll được tổ chức tại Vienna ( Áo quốc). Hội nghị thảo luận về những tiến bộ đạt được về mặt thực hiện từ năm 1948 và kiểm điểm những khó khăn, trở ngại gặp phải, đồng thời đưa ra những khuyến cáo nhằm tăng cường sự hợp tác quốc tế đúng theo Hiến chương và những văn kiện quốc tế về Nhân quyền.
Từ đó đến nay, gần mười năm qua, những vi phạm Nhân Quyền nghiêm trọng vẫn thường xuyên xăy ra khắp nơi trên thế giớị Về mặt thành quả đạt được, phải ghi nhận vụ truy tố Pinochet, vụ Khờ-me đỏ, vụ Kosovo với sự can thiệp của khối Bắc Đại Tây Dương...Những sự kiện này đă làm thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa những giá trị con người với chủ quyền quốc giạ
Trong lúc đó, ở Việt nam, Nhân Quyền vẫn bị vi phạm, v́ hệ thống do chế độ cộng sản vẫn rập khuôn theo quan niệm Nhân Quyền của người Mác-Lê. T́nh trạng này sẽ c̣n kéo dài khi mà quyền dảdân tộc tự quyết vẫn chưa thực hiện được ở Việt nam để mỗi công dân được quyền hành sử những quyền làm con người căn bản của ḿnh ( quyền tự do phát biểu, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do thương doanh, tự do thờ tự, tôn giáo ...)
Đây là những quyền sở hữu của con ngườị Nhà nước không thể tước đoạt mà không thể ban phát cho con ngườị Cũng như TỰ DO : Nhà nước không tạo ra tự do cho dân chúng mà Nhà nước chỉ nh́n nhận nó, và nh́n nhận bằng cách chính Nhà nước tự giới hạn ḿnh.
Ngày nay cổ vũ Nhân Quyền cho Việt nam có phải là cách tranh đău hữu hiệu không ? và tranh đău đem lại Nhân Quyền cho Việt nam có đi ngược lại những đặc thù văn hóa địa phương không ?
1- Nhân Quyền là những quyền tự nhiên của con người hay Nhân Quyền trong Văn hóa Việt nam:
Trong ngôn ngữ chánh trị Việt nam trước đây không có từ ngữ Nhân Quyền, Dân chủ. Măi đến thế kỷ XIX, những từ ngữ ấy từ Tây phương du nhập qua Nhật Bản để rồi sang Việt nam. Nói như thế, không có nghĩa rằng ở Việt nam vào nhừng thời kỳ ấy người dân Việt Nam không được sống xứng đáng với địa vị con người và những quyền lợi ḿnh không được chánh quyền tôn trọng. Xă hội chánh trị Việt Nam dưới thời quân chủ được thiết lập trên ư niệm nền tảng là nhà vua ngự trị trên cao, c̣n thường dân là thứ dân ở nấc thang thấp kém nhứt, mỗi người phải có bổn phận chu toàn trong vị thứ của ḿnh. Vậy th́, khi nhà vua làm tṛn bổn phận của ḿnh th́ tự nhiên ṭan dận hưởng được phúc lợi, đại khái phù hợp với những quyền mà ngày nay chúng ta gọi là Nhân Quyền. Như vậy, người dân Việt nam ngày xưa tuy không biết ư niệm về Nhân Quyền như những thứ quyền bất khả thủ tiêu của con người, vẫn có thể hưởng được ít hay nhiều do vị có làm tṛn bổn phận hay không. Khổng tử xưa đă định nghĩa một vị anh quân là người " Tiên thiên hạ chi ưu; Hâu thiên hạ chi lạc". Nhà vua biết lo lắng cho dân được ấm no hạnh phúc và chỉ biết vui sau khi dân ḿnh được hưởng cái vui cái sướng, đó là quan niệm Nhản Quyền của người dân Việt nam nói riêng và của Văn hóa Á đông nói chung vậỵ
Quan niệm Á đông về bổn phận nhà vua gọi là Thiên mệnh. Đối lại dân chúng là nền tảng quốc gia là Dân bản . Khi nền tảng vững chắc th́ quốc gia yên ổn, bền vững, xă hội an vui, người người hạnh phúc.
Trong quan hệ giữa thiên mệnh và dân bản, nhà vua có bổn phận phải hết ḷng chăm lo đời sống cho dân chúng. V́ nhận lănh thiên mệnh nên nhà vua bị Trời kiểm soát việc làm của ḿnh qua thành quả đời sống của dân chúng của ḿnh như sung sướng hay cơ cực. Ư dân là ư Tṛị Nếu nhà vua không làm chu tṛn bổn phận ḿnh đối với dân, nghĩa là không chu toàn thiên mệnh, trái lại nhà vua c̣n tàn bạo đối với dân chúng th́ Trời cũng thể theo ư dân mà thu hồi thiên mệnh. Thực tế, dân chúng sẽ nổi dậy truất phế nhà vua để thiết lập triều đại khác cho hợp với ḷng dân. Trong suốt ḍng lịch sử Việt Nam, phần lớn các vị vua đêù cố gắng làm tṛn bổn phận đối với thần dân. Những người dân của những triều đại ấy hưởng được những quyền mà chúng ta tạm gọi là quyền tự nhiên của con ngườị
11-Về chánh trị: Chế độ quân chủ được chia ra nhiều đẳng cấp, trên cao nhứt là ngôi vị nhà vuạ Ở Việt nam và Trung hoa, chỉ có ngôi vua là cha truyền con nối trong ḥang tộc. C̣n các chức tước khác, thứ dân nhờ tài học và đạo đức, vẫn có thể thủ đắc. Từ thời nhà Lư, vào thế kỷ thứ XI, Việt Nam đă mở ra những khoa thi để chọn nhân tài ra giúp nước. Như vậy dưới thời quân chủ chuyên chế cực thịnh, dân chúng mọi người tùy theo khả năng , á á cũng có thể tham gia việc chánh trị một cách b́nh đẳng. ( Trần Trọng Kim, Việt nam sử lược, Hoa kỳ 1984)
Ngoài ra, các chế độ quân chủ Việt nam chẳng những c̣n cho phép, mà c̣n khuyến khích mọi người bày tỏ quan điểm chánh trị của ḿnh. Quan chức và dân chúng có quyền dâng sớ phê b́nh, hoặc bày tỏ nguyện vọng của ḿnh. (Trần Trọng Kim, nt). Vua Minh Mạng đă từng nói :" việc nước quá nhiều, mà sự hiểu biết của một người th́ quá hạn chế.. Bởi vậy , chúng ta cần phải biết ư kiến của mọi ngưbời để có thể có cái nh́n đúng và có giải pháp tốt" (Minh Mạng Chánh yếu, Saigon 1972).
Đối với các tù binh, các vua Lê Thái Tổ và Quang Trung đêù cung cấp lương thực, phương tiện và cho phép chúng trở về Tàu an ṭan. Vua Quang Trung c̣n lập đàn giải oan cho quân Thanh tử trận. (Trần Trọng Kim, nt)
Ngày nay, chế độ Cộng Sản ở Việt nam, v́ không thừa hưởng di sản của tiền nhơn nên cực lực đàn áp, trù dập tất cả mọi người khác chánh kiến, mặc dù ư kiến của họ rất lương thiện như đ̣i hỏi Dân chủ, Nhân quyền. Hiện nay c̣n bao nhiêu người bị giam cầm, quản chế, có khi không xét xử, v́ tội dám đưa yêu sách hoặc phê phán chánh quyền Hà Nội : cựu Tướng Tràn Độ, nhà văn Hà Sỹ Phu, nhà thơ Bú Minh Quốc, luật sư Lê Chí Quang.. đó là những người thuộc thành phần có đóng góp cùng chiến tuyến với họ, c̣n đối với những người đă từng chống đối họ, th́ như Giáo sư Nguyễn Đ́nh Huy , chỉ v́ đ̣i hỏi dân chủ mà ông ta phải lănh àn 15 năm tù v́ ti "âm mưu lật đổ chánh quyền Xă Hội Chủ Nghĩa". Chúng ta chớ quên rằng sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, đối với những tù nhơn bại trận của chánh quyền Miền Nam, Hà Nội đă tập trung tù đày một cách dă man. Đối với đồng bào Miền Nam, một chiến dịch đău tố truy kích để vơ vét mọi tài sản cơ đồ và sau đó đuổi họ ra khỏi thành phố thúc đẩy hàng triệu người bỏ nước vượt biên. Như thế, chánh quyền Hà Nội đă lưu đày biệt xứ hàng triệu nhân dân lương thiện. Hành động nầy là một sự vi phạm Nhân quyền nghiêm trọng v́ chánh quyền đă tước đoạt quyền định cư và quyền sống của dân chúng. Đó là đối với người sống, đối với người chết, chánh quyền Hà Nội cho san bằng tất cả những nghĩa trang quân đội của các quân nhân Việt Nam Cộng Ḥa ( nhắc lại :Vua Quang Trung cho lập đàn gỉải oan binh sĩ nhà Thanh ) .
12- Về mặt luật pháp : Các chế độ quân chủ Việt Nam đêù quan tâm đến việc bảo đảm cho dân chúng có một đời sống công bằng trong một xă hội lấy đạo đức làm nền tảng. Hai bộ luật c̣n được sử dụng ở Việt nam cho đến thập niên 70 là " Quốc triều h́nh luật " và "Hoàng Việt luật lệ" qui định những h́nh phạt rất nặng, có khi đến tử h́nh, nhằm phạt những quan chức tham nhũng, hối mại quyền thế, qua trung gian vợ con, người thân trong họ hoặc gia nhơn, thu lợi về cho ḿnh. Án tử h́nh thường phải do nhà vua quyết định cuối cùng.
Hai bộ luật nầy rất trọng nữ quyền; H́nh phạt dành cho phụ nữ luôn luôn nhẹ hơn. Và trong gia đ́nh, về quyền lợi, phụ nữ có đăy đủ quyền lợi như người đàn ông.
Quốc Triều H́nh Luật qui định rơ thời hạn của vụ án phải được kết thúc nhanh để tránh làm mất thời giờ cho đôi bên. Điều này, so với một số nước Tây Phương, đă là một sự tiến bộ rơ ràng. C̣n Cộng sản Việt Nam ? Bắt giam người năm bảy năm không xét xử là chuyện thường t́nh ( người viết bài này bị "tạm giữ để điều tra" gần 4 năm)
13-Về mặt kinh tế xă hội : Chế Độ quân chủ Việt nam bảo đảm cho mỗi người dân có được một mức sống tối thiểu bằng cách cấp phát cho mỗi người một phần đất để sanh sống.Từ nhà Lê, vua Lê Thái tổ đă thực hiện chánh sách cải cách ruộng đất, trưng thu đất ruộng của các triều đại trước, của những quan chức làm giàu bất chánh, của những người không có thừa kế, để cấp phát đồng
đêù cho dân chúng canh tác. Việc cấp phát này được xét lại bốn năm một lần. Về sau việc xét theo lệ mười năm một lần. Qua thời nhà Nguyễn, nhờ mở mang trong Nam, nên việc cấp phát ruộng đất được rộng răi hơn. Và giao cho địa phương đăm trách. Nhà Nguyễn c̣n nghiên cứu trưng tập các tư điền của các nhà giàu lớn ( lấy 3/10 diện tích) để sung vào công điền cấp phát cho cô nhi quả phụ, thương phế binh..
Đó là dưới thời quân chủ chuyên chế cực thịnh mà người dân ở Việt nam đă được hưởng khá đày đủ các quyền lợi mà ngày nay chúng ta tạm gọi là những quyền tự nhiên của con người ( Đại Việt sử kư toàn thư, Hà nội, 1967 )
Riêng mỗi người có một phần đất để tự mưu sinh, nói lên đầy đủ ư nghĩa về quyền làm một con người ở tại Việt Nam đă có từ thế kỷ thứ XV rồị
C̣n ở Việt nam ngày nay ? quyền nầy đă bị tước đoạt. Thay thế vào bằng chế độ hộ khẩu và công an khu vực quản lư chành trị đời sống người dân nhằm giữ cho nhân dân tồn tại mà vẫn không được sống, v́ không có quyền làm con người nên không được làm người
2- Nhân quyền theo người Mác xít:
Việt nam ngày nay bị cai trị bởi một chế độ Cộng Sản, Hồ Chí minh và những người Cộng Sản hành xử y khuôn theo ư thức hệ Mác-Lê. Nền tảng của chủ thuyết Mác-Lê là vật chất và duy vật biện chứng.
Theo quan niệm duy vật họ chối bỏ mọi giá trị tinh thần , như luân lư, đạo đức. Biện chứng, người Cộng sản không chấp nhận có những giá trị vĩnh cữu, thường tại.. Với quan niệm căn bản ấy, người Cộng sản Mác-lê từ khước những quyền tự nhiên bất khả nhượng của con người, như quyền sống, quyền tự do, quyền an ninh thân thể, quyền tự do tinh thần, quyền tư hữu .. Theo người Cộng sản :" Nhân quyền chỉ là phản ảnh của những quyền lợi về kinh tế, đó là quyền lực của giai cấp thống trị "( Jean Touchard, L'histoire des idées politiques , Paris 1975)
Từ quan niệm này, người Cộng sản phê b́nh bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền 1789 của pháp, cho đó là: " thành quả thắng lợi của giai cấp tư sản đối với giai cấp quư tộc, vũ khí để bảo vệ quyển lợi và củng cố uy quyền của họ mà thôị Nhân quyền chỉ dành cho những người có của, có tiền. Đối với những người nghèo khổ, Nhân quyền không có lợi ích ǵ hết." Đi xa hơn nữa trong lư luận, người Cộng sản cho rằng : " nhừng quyền tự do cũng chỉ là thứ " tự do h́nh thức " hoàn toàn không chứa đựng một " nội dung thực tế " " cụ thể" ( Jean Rivero, Les droits de l'homme, Paris 1978).
Đối với người Cộng sản, Nhân quyền chỉ có ư nghĩa thực tế trong một xă hội không giai cấp và không có chiếm hữu trong những phương tiện không sản xuất. Nên chỉ có chế độ Cộng sản mới đem lại cho mọi người tự do thật sự, nghĩa là tự do có nội dung cụ thể, chớ không phải thứ tự do h́nh thức. ( Jean Rivero,nt)
Rơ hơn , ta thữ đọc lại lời Mác viết về Nhân Quyền " Chúng ta hăy xem những thứ cho là Nhân Quyền trong nguyên trạng, của những người đă khám phá ra, đó là nhừng người Bắc Mỹ và Pháp. Chúng ta sẽ nhận thấy ngay Nhân Quyền, ngược lại với Dân Quyền, không ǵ khác hơn là thành phần thuộc xă hội tư sản, nghĩa là của con người ích kỷ, của con người tách rời khỏi con người của quần chúng. Quyền Tự do của con người không được thiết lập trên mối quan hệ giữa người với người , mà trái lại , trên sự tách rời giữa người với ngườị Đúng hơn đó là quyền chia cách giữa con người với nhaụ" ( Morange, Droits de l'homme et philosophie, Paris 1983)
Đối với người Cộng sản, không thể nói chuyện về Nhân Quyền với họ được. Bởi v́ họ cho Nhân Quyền chỉ là thứ quyền " cho là" " gọi là" chớ không có thật. Thế mà người Cộng sản khi tranh đău trong một chế độ dân chủ chẳng những lại được thụ hưởng, được bảo vệ bởi những quyền â'y, họ thậm chí, lại nhân danh những quyền ấy để phát động cuộc tranh đău, nhưng mục tiêu cuốii cùng vẫn chỉ là quyền lợi của chuyên chế vô sản, và, Cộng sản chủ nghĩạ
3- Nhân Quyền, điều kiện tiên quyết cho một giải pháp Phát triển Dân chủ:
Trong xă hi ngày nay, mọi cá nhân đêù hưởng được những quyền lợi và những quyền lợi này được luật pháp bảo vệ. Nếu luật pháp không bảo vệ th́ những thứ quyền lợi ấy sẽ không tồn tạị Trong truyền thống Văn hóa Việt nam lại có một loại quyền gọi là quyền tự nhiên, những quyền này thuộc về mỗi cá nhơn con người; có là những quyền căn bản. Nếu thiếu th́ xă hội con người không thể vận hành được.
Nguyên tắc Dân chủ chỉ có giá trị trong những giới hạn của những quyền tự nhiên của con người .
Những quyền tự nhiên để được hoàn hảo, được bảo đảm cao, phải được đặt trong mối quan hệ với xă hội chánh trị, như sự tôn trọng luật pháp do xă hội chánh trị đặt rạ Dĩ nhiên mục đích là nhằm bảo đảm và bảo vệ những quyền tự nhiên. Thế là mối quan hệ ấy mặc nhiên tở thành một khế ước giữa dân chúng và Nhà Nước. Đă nói đến Khế ước là nói đến vấn đề hổ tương, lưởng lợi ( synallagmatique), đôi bên đêù có những quyền lợi, nhưng đôi bên đêù phải có những bổn phận, tương quan với nhaụ Những cá nhơn bị bắt buộc phải tuân hành mệnh lệnh của chánh quyền nhưng lại được chánh quyền bảo vệ đời sống, bảo vệ sự tự do, quyền sở hữu...c̣n chánh quyền khi ban hành luật lệ để bảo đảm an ninh và bảo vệ những quyền tự nhiên, chánh quyền chỉ làm một bổn phận giữ trật tự cho một sự hài ḥa ổn định chánh trị.
Nếu một bên nào không thi hành nghiêm chỉnh bổn phận của ḿnh th́ sự hài ḥa sẽ mất cân bằng. Sự mất ổn định sẽ bị tạo rạ Nếu chánh quyền trở thành hung bạo, độc đóan th́ dân chúng sẽ không c̣n nghĩa vụ phải tuân phục chánh quyền nữa, khế ước hai bên sẽ bị huỷ bỏ.
Chỉ có khế ước và sự tôn trọng khế ước ấy mới đem lại cho chánh quyền sự chính thống, hay chính nghĩạ
Nói như vậy, khi một Nhà Nước đă xóa bỏ bổn phận của ḿnh, không làm đúng bổn phận của ḿnh, thậm chí c̣n dùng bạo quyền để tước đoạt những quyền tự nhiên của dân chúng của ḿnh, th́ dân chúng có quyền dùng quyền lực nổi dậy ( Thuyết của Jean de Salisbury, một triết gia, được Guy Haarscher trích dẫn trong La philosophie des droits de l'homme, Bruxelles 1993)
Phản ứng về phía dân chúng đối với bạo quyền là chánh đáng..Phản ứng này đưa vào hệ thống chính thống hóa quyền lực để trở thành một thứ quyền bất khả nhượng. Đó là quyền chống lại áp bức.
Kết luận:
Chánh quyền Cộng sản Việt Nam lúc nào cũng vẫn viện dẫn sự ổn định chánh trị để phát triển, bởi Việt nam là một nước đang phát triển, mà trù dập mọi đ̣i hỏi thực thi Nhân Quyền.
Ngày nay, thuyết "dân chúng an ninh do quốc gia ổn định" không c̣n giá trị nữa, mà trái lại, sự an ninh quốc gia phải được xóay theo sự an ninh cùa toàn dân.
Chính sự an ninh của toàn dân mới mới là điểm quy chiếụ Quan niệm này đă làm thay đổi mọi tiêu chuẩn chánh trị của thế giới bởi nó không c̣n chấp nhận chủ quyền quốc gia như là cột trụ của bang giao quốc tế ( Nhựt báo Le Monde, 22/599, Lời tuyên bố của ông Ngoại trưởng Gia-Nă-Đại, Ông Lloyd Axworthy).
Sự đề cao và bảo vệ an ninh con người trước chánh quyền dẫn đến chấp thuận nguyên tắc sử dụng những biện pháp cưỡng bách, kể cả việc can thiệp quân sự như ở Nam Tư, Kosovo.. Liên Hiệp Quốc đă có mặt ở mọi nơi khi t́nh h́nh an ninh quần chúng ở nơi ấy bị de dọa: Libéria, Rwanda, Cam-bốt-đia.. Tại sao những vùng có dân tộc thiểu số ở Việt nam hiện đang bị đàn áp và mất an ninh không được bảo vệ bởi một thể chế quốc tế "phi quân sự", nghĩa là không có mặt của quân đội công an nhà nước Việt nam đàn áp như hiện nay, cho dân chúng những vúng ấy một tư cách tự quản lư và do một cơ chế quốc tế giám định ( Liên Hiệp Quốc, hay các đại diện thường dân, y tế, xă hội, hay quân sự của quốc tế, hay của vùng Đông-Nam-Á) để chờ một giải pháp chánh trị ôn ḥa vừa có công bằng cho dân tộc thiểu số ấy vừa giử được chủ quyền cho đất nước, vừa giữ tránh nhà cầm quyền sỡ tại những hành động có tính cách xâm phạm Nhân Quyền.
Tranh đău cho Nhân Quyền là thiết lập điểm quy chiếu có tính cách bắt buộc cho chánh quyền trong các hoạt động pháp chế trong nước hoặc ngoài nước, đối nội như đối ngoại ( Dominique Rousseau, Le Monde 16/7/99)
Tranh đău cho Nhân Quyền là đặt lại nền tảng quyền quan hệ : tự do tư hữu, tự do cư trú, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, tự do phản kháng, dư luận, lập hội...đó là những quyền căn bản ràng buộc thân ái hài ḥa chánh trị những con người trong xă hội với nhaụ
Tranh đấu cho Nhân Quyền có mặt ở Việt nam chỉ là tranh đău cho sự trở về với Văn hóa dân tộc Việt nam, trở về với những tập quán chánh trị cuả ông cha chúng ta, trở về với cái hài ḥa nhân ái của nếp sống chánh trị của tiền nhơn. Nhà vua th́ " Tiên thiên hạ chi ưu, hậu thiên hạ chi lạc". Thứ dân th́ " Quân Sư Phụ". Trên thuận dưới ḥạ Khế ước " thiên mệnh" và "dân bản" hài ḥa trong sự ḥa hợp cân bằng những cái quyền tự nhiên và căn bản của mỗi cá nhơn con người, và bổn phận mỗi con người chúng ta đối với tập thể cộng đồng đại diện bởi nhà nước; và ngược lại nghĩa vụ và bổn phận của nhà cầm quyền là bảo vệ và bảo đảm những quyền căn bản và tự nhiên của mỗi cá nhơn trong trật tự, an ninh của cộng đồng.
Nhân Quyền Dân chủ là những giá trị toàn cầu, vượt trên những quyền lợi quốc gia, Chánh trị Dân chủ phải được xây trên Nhân Quyền.
Nhân Quyền là điều kiện tiên quyết để xây dựng phát triển Dân chủ
Phan Văn Song