NHỚ VỀ CÁC KHÓA HUẤN LUYỆN TNBQĐ NĂM XƯA
Hoài Sơn (Ung Ngọc Nghĩa)


Năm 1948, sau khi giải pháp Bảo Đại h́nh thành, Đại Việt Quốc Dân Đảng, xứ bộ Miền Nam liền cho thành lập một tổ chức ngoại vi lấy tên là Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn (TNBQĐ), đồng thời cho xuất bản hai tờ bán tuần báo Quốc Việt (cơ quan bán chính thức của xứ bộ Miền Nam ĐVQDĐ) và Thanh Niên (cơ quan chính thức của TNBQĐ) để tranh đấu tích cực cho giải pháp ấy.
TNBQĐ đặt trụ sở trung ương tại rạp hát Đội Có (sau này đổi ra rạp Kinh Thành), nằm xeo xéo trước chợ Tân Định. Thủ lănh TNBQĐ là anh Đỗ Văn Năng, Phó Thủ Lănh là anh Trần Văn Xuân, Tổng Thư Kư là anh Vương Hữu Đức, Ủy Viên Thường Trực là anh Lê Văn Hiệp. Đoàn viên TNBQĐ hầu hết là những thanh niên đă tham gia kháng chiến từ những ngày đầu tiên (23/9/1945) nhưng về sau không chấp nhận đường lối lănh đạo của Việt Minh (Cộng Sản) nên đă rời hàng ngũ kháng chiến ra gia nhập TNBQĐ, điển h́nh là các anh Lê Văn Hiệp, Trần Văn Xuân, Vương Hữu Đức, Mười Mén v.v...
TNBQĐ bắt đầu hoạt động vào đầu năm 1948, đến giữa năm 1951 th́ bị chính quyền Nguyễn Văn Tâm giải tán, vỏn vẹn có hơn 3 năm nhưng đă hoạt động đắc lực, nên khi cựu hoàng Bảo Đại về nước chấp chánh th́ trong chính phủ đầu tiên của ngài có đến 5 đảng viên Đại Việt tham chính. Đó là các ông: Đặng Trinh Kỳ (Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng), Lê Thăng (Thứ Trưởng Ngoại Giao), Nguyễn Tôn Hoàn (Bộ Trưởng Thanh Niên), Nguyễn Hữu Trí (Thủ Hiến Bắc Việt) và Phan Huy Quát (Tổng Trưởng Giáo Dục).

Trụ sở Trung Ương của TNBQĐ vốn là một rạp hát gồm có sân khấu, tầng trệt, tầng lầu nên diện tích rất rộng, có thể chia làm nhiều pḥng để làm văn pḥng, các lớp huấn luyện và nơi ăn ở cho các huấn sinh nội trú (gồm có các đoàn viên TNBQĐ và các đảng viên ĐVQDĐ).

VIỆC HUẤN LUYỆN CHÍNH TRỊ CỦA THANH NIÊN BẢO QUỐC ĐOÀN
Vừa mở xong trụ sở, TNBQĐ nghĩ ngay đến việc huấn luyện chính trị cho các đoàn viên của ḿnh. V́ đó, anh Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy được giao phó soạn thảo các tài liệu huấn luyện sau đây:
1. Vấn đáp (cho các đoàn viên mới biết đọc viết).
2. Sơ cấp (cho các đoàn viên cỡ Tiểu Học).
3. Trung cấp (cho các đoàn viên cỡ Trung Học).
4. Cao cấp (măi đến 1954, anh Hùng Nguyên mới soạn xong, và đến năm 1964 mới in lần thứ nhất dưới nhan đề Dân Tộc Sinh Tồn - chủ nghĩa quốc gia khoa học, một bộ sách đồ sộ dầy đến 800 trang, in thành 2 quyển, quyển thượng 342 trang và quyển hạ 415 trang.
Thành phần huấn luyện gồm có các huấn luyện viên thường trực và huấn luyện viên bất thường.
Các huấn luyện viên thường trực gồm có Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy, Phạm Thái Nguyễn Ngọc Tân, Mười Mén Nguyễn Đăng Xinh và Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa.
Các huấn luyện viên không thường trực gồm có các anh Lê Văn Hiệp (Ủy Viên Thường Vụ), Trần Văn Xuân (Phó Thủ Lănh), Vương Hữu Đức (Tổng Thư Kư) và Nguyễn Văn Lâm (Ủy Viên Thường Vụ thay Lê Văn Hiệp công tác miền Bắc).
Các đoàn viên thụ huấn phần lớn là những thanh niên đă tham gia phong trào Nam Bộ Kháng Chiến, sau v́ không chấp nhận sự lănh đạo độc tài của Việt Minh Cộng Sản nên đă rời kháng chiến về gia nhập TNBQĐ.
Chương tŕnh huấn luyện gồm có nhiều môn trong đó quan trọng hơn hết là các môn: 1. Xây dựng lập trường chính trị; 2. Chủ nghĩa dân Tộc Sinh Tồn (DTST) và 3. Nhận định thời cuộc theo quan niệm DTST. V́ đó, trong bài này, tôi xin lược kể lại ba môn đó.

I. XÂY DỰNG LẬP TRƯỜNG CHÍNH TRỊ
Nh́n chung, người Quốc Gia chống Cộng Sản chúng ta về lập trường chính trị không được truyền thụ rộng răi. Để khắc phục nhược điểm này, năm 1948, anh Hùng Nguyên đă viết một tài liệu có tên là Dân Tộc hay Giai Cấp? để minh định lập trường tranh đấu cho người không Cộng Sản. Tranh đấu theo đường lối dân tộc là tranh đấu cho Quốc Gia, cho Đất Nước, c̣n tranh đấu theo đường lối giai cấp là tranh đấu cho Quốc Tế, cho Cộng Sản.
Nếu ta so sánh giữa hai lập trường Dân Tộc và Giai Cấp, ta thấy có sự khác biệt trong ba điểm sau đây:
1. Dân Tộc th́ tự nhiên, rơ ràng, c̣n Giai Cấp th́ giả tạo, mù mờ. Hăy nh́n những người chung quanh ta, nghe giọng nói, nh́n màu da của họ, ta không biết họ thuộc giai cấp nào, nhưng biết chắc chắn họ thuộc dân tộc nào. Rơ ràng, tự nhiên là như vậy.

2. Suốt đời, người ta không hề thay đổi dân tộc nhưng có thể thay đổi giai cấp nhiều lần.
Người ta có thể bỏ quốc tịch ḿnh, theo quốc tịch ngoại quốc, như quốc tịch Pháp, quốc tịch Anh (sau này là quốc tịch Mỹ, quốc tịch Úc...). Trong trường hợp này, người ta gọi là người Pháp gốc Việt, người Anh gốc Việt, chứ không ai gọi là người Pháp, người Anh cả. Vậy dân tộc không bao giờ thay đổi. Trong lúc đó, trong một đời, người ta có thể thay đổi giai cấp nhiều lần, như trước khi Cộng Sản nhặt chính quyền năm 1945, nhiều người là điền chủ, thương gia giàu có. Sau khi Cộng Sản cầm quyền, họ bị tước hết tài sản, tố khổ, trở nên vô sản, khốn khổ vô cùng (sau này, năm 1975, Cộng Sản chiếm trọn miền Nam, trường hợp đó lại xảy ra lần nữa). Vậy trong đời người, dân tộc không hề thay đổi, nhưng giai cấp có thể thay đổi nhiều lần.

3. Tranh đấu cho dân tộc là để trung thành với dân tộc ḿnh, c̣n tranh đấu cho giai cấp là để phản bội lại giai cấp ḿnh.
Tranh đấu chống Tàu, chống Pháp là để giữ nguyên gốc tích dân tộc ḿnh, không trở thành người Tàu, người Pháp, mất gốc đi, c̣n tranh đấu cho giai cấp là để phản bội lại giai cấp cố hữu của ḿnh,v́ bảo bần cố nông “các anh cố gắng tranh đấu đi, muôn năm các anh vẫn là bần cố nông” th́ không ai theo cả. Phải nói: “tranh đấu lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo, lấy đất người giàu chia cho người nghèo” th́ họ mới ham mà tham gia cuộc tranh đấu. Như vậy là họ đă phản bội lại giai cấp bần cố nông “vô sản” để được lên cấp bậc “hữu sản” cao hơn.
Lập trường Dân Tộc (tức Quốc Gia) đúng đắn, rơ ràng như vậy nên năm 1945, ngay sau khi vừa nhặt được chính quyền (19/8/1945), th́ không đầy ba tháng sau, ngày 11/11/1945, Việt Minh cho giải tán Đảng Cộng Sản, thành lập hội Nghiên Cứu Mác Xít để giấu ḿnh rồi nêu cao khẩu hiệu Dân Tộc giải phóng, kháng chiến chống Pháp để lôi cuốn dân chúng.
(Và lập trường Dân Tộc đúng đắn đến nỗi năm 1960, khi thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam th́ thay v́ gọi là Mặt Trận Cộng Sản GPMN hay Mặt Trận Giai Cấp GPMN, họ lại mượn danh Dân Tộc một lần nữa để đặt tên cho MT là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để lôi cuốn dân chúng Miền Nam theo họ) (1).

Trong phần xây dựng lập trường chính trị này, chúng ta đang dùng câu tâm niệm: “Đứng cho vững, dùng sức đoàn kết toàn dân” (hay tứ dân) chiến đấu trên lập trường Dân Tộc, rồi dùng sức mạnh đoàn kết của toàn dân (tức là sức tứ dân sĩ-nông-công-thương ở Hội Nghị Diên Hồng) để chiến thắng quân thù, như trường hợp nhà Lư thắng quân Tống, nhà Trần thắng quân Nguyên, nhà Lê thắng quân Minh, nhà Tây Sơn thắng quân Thanh là nhờ sức đoàn kết của toàn dân vậy.
Tóm lại, đứng trên lập trường Dân Tộc, chúng ta chống lại lập trường Giai Cấp của Cộng Sản ở ba điểm sau đây:
1. Chúng ta chủ trương đoàn kết, Cộng Sản chủ trương chia rẽ. Toàn dân (hay tứ dân) gồm có sĩ, nông, công, thương. Ta chủ trương đoàn kết cả bốn dân nên có sức mạnh toàn dân đoàn kết. Cộng Sản chủ trương đoàn kết hai dân (công, nông) và tiêu diệt hai dân (sĩ và thương, v́ trong câu “tứ phú địa hào, đào cho tận gốc, trốc cho tận rễ”, th́ trí tức là sĩ, c̣n phú là thương vậy). Vậy v́ chủ trương đoàn kết, ta chống lại sự chia rẽ của Cộng Sản.

2. Ta chủ trương dân chủ, Cộng Sản chủ trương độc tài. Ta chủ trương tôn trọng tự do, dân chủ của mọi người, c̣n Cộng Sản lại áp chế, cấm kỵ toàn dân đủ mọi mặt, ai cũng biết rơ. Câu “vô sản chuyên chính”... đủ nói rơ điều này. Vậy, v́ chủ trương dân chủ, ta chống lại độc tài.

3. Ta chủ trương giữ nguồn cội, Cộng Sản chủ trương bỏ cội nguồn. Cây có cội, nước có nguồn. Vật vô tri c̣n vậy, huống ǵ là người. Đối với chúng ta, về nguồn gốc, trong nhà th́ có ông bà, tổ tiên, trong nước th́ có vua Hùng. V́ đó, trong nhà, chỗ trang trọng nhất th́ đặt bàn thờ gia tiên, trong nước, chỗ linh thiêng nhất th́ xây đền thờ vua Hùng, mỗi năm, đến ngày lễ giỗ, đều cử hành lễ cúng tế trọng thể.
Cộng Sản th́ không thế. Trong nhà, thay v́ bàn thờ gia tiên, họ bắt treo h́nh Hồ Chí Minh, trong nước, những ngày lễ lớn, họ đặt h́nh Các Mác, Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông ở chỗ trang trọng nhất rồi cùng nhau lễ bái. Không có tổ tiên, vua Hùng ǵ cả. Không c̣n có ǵ liên quan đến gia đ́nh, tổ quốc cả. Toàn là những người quốc tế hủy diệt gia đ́nh, tổ quốc cả. Họ đă mất gốc cả. Chính v́ vậy mà ta chủ trương chống lại Cộng Sản để bảo tồn nguồn cội của ḿnh.

II. THUYẾT GIẢNG CHỦ NGHĨA DÂN TỘC SINH TỒN
Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn (DTST) do Đảng Trưởng Trương Tử Anh phác thảo năm 1938. Đảng Trưởng đă trực tiếp thuyết giảng, truyền thụ chủ nghĩa theo một bố cục cô đọng, về sau được anh Hùng Nguyên Nguyễn Ngọc Huy khai triển thành bộ sách đồ sộ dày đến 800 trang. Sau đây là phần nội dung tóm lược của chủ nghĩa.

1. Bản năng sinh tồn
Theo chủ nghĩa DTST, trong sự hoạt động hàng ngày, con người chịu sự chi phối nặng nề của những bản năng, tức là những bẩm tính tự nhiên thúc đẩy con người hoạt động. Có ba loại bản năng quan trọng là bản năng vị kỷ, bản năng tính dục và bản năng xă hội.
* Bản năng vị kỷ nhằm vào việc bảo vệ sự sinh tồn của cá nhân. Phát triển đến triệt để, bản năng này đưa đến sự h́nh thành chủ nghĩa cá nhân thường dùng ở các nước Tây Phương.
* Bản năng tính dục sanh con đẻ cái nhằm vào việc bảo vệ sự sinh tồn của chủng loại. Phát triển đến triệt để, bản năng này đưa đến sự h́nh thành chủ nghĩa Quốc Gia (Dân Tộc).
* Bản năng xă hội nhằm vào việc bảo vệ sự sinh tồn của nhân loại. Phát triển đến triệt để, bản năng này đưa đến sự h́nh thành của chủ nghĩa thế giới đại đồng, chủ trương của các nước Cộng Sản.
Ba loại bản năng này không phải hoàn toàn biệt lập nhau, rời rạc nhau mà thường tác động qua lại nhau, lắm khi c̣n ḥa hợp với nhau thành một bản năng duy nhất là bản năng sinh tồn. Vậy bản năng sinh tồn là bản năng tổng hợp của ba loại bản năng vị kỷ, t́nh dục và xă hội. Nó sánh với cái lồng đèn và ba bản năng kia là ba mặt khác nhau của cái lồng đèn.
Bản năng sinh tồn là một bản tính tự nhiên, hỗn hợp với cơ thể con người. Nó phát hiện từ khi con người mới sinh ra và chỉ tiêu diệt khi con người chết. Do đó, nó chi phối hết cả đời sống con người, từ lúc người mới cất tiếng chào đời cho đến xuôi tay nhắm mắt. Nhờ có bản năng sinh tồn mà con người có được ư chí sinh tồn rất mạnh mẽ. Ư chí sinh tồn này phát hiện rất rơ ràng trong mọi hoạt động của con người.

2. Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn (DTST)
Con người hoạt động để làm ǵ?
Ngẫm từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, con người hoạt động để sống và tồn tại, tức kéo dài sự sống của ḿnh càng lâu càng tốt. Vậy, con người hoạt động để sinh tồn.
Về mặt vật chất, con người hoạt động để nuôi thân, để duy tŕ sự sống của ḿnh. Về mặt tinh thần, người muốn tự do phát biểu t́nh cảm, tư tưởng của ḿnh, tổ chức đời sống của ḿnh theo sở thích. Hơn nữa, người c̣n muốn sau khi người chết đi, một phần sự sống của ḿnh c̣n lưu lại với đời, như có một đứa con nối dơi tông đường, tạo được một tác phẩm nghệ thuật hay một công tŕnh rực rỡ được nhiều người nhắc đến. Tóm lại, tất cả đời sống của người đều quây quần chung quanh hai chữ Sinh Tồn: sinh tồn vật chất, sinh tồn tinh thần, sinh tồn cá nhân, sinh tồn chủng loại.

* Muốn sinh tồn, ta phải làm ǵ?
- Ta phải tranh đấu, v́ trên đời này, ngoài không khí ra, muốn có vật ǵ, ta đều phải tranh đấu mới có được. Tranh đấu chống thiên nhiên, chống thú vật, chống đồng loại. Cả ba loại tranh đấu này ta đều cử hành một lượt: vừa cất nhà để ở (chống thiên nhiên), vừa giết thú vật để ăn, vừa chống đồng loại để giữ ǵn tài sản của ḿnh. Ngoài ra, ta c̣n tranh đấu với nội tâm để chống lại những thói hư tật xấu sẵn sàng cám dỗ ḿnh.
Cuộc tranh đấu có khi ôn ḥa, có khi bạo tợn, nhưng dầu ôn ḥa hay bạo tợn, ta đều phải cố gắng để chiến thắng nó.

* Làm thế nào để chiến thắng?
Muốn nắm phần thắng trong cuộc tranh đấu ta có đủ ba điều kiện tối cần là sức mạnh, xu hướng biến cải và hợp quần.

1. Sức mạnh. Mạnh về vật chất, mạnh về tinh thần là quan trọng nhất v́ bao giờ cũng “mạnh được yếu thua” như cổ nhân thường nói.

2. Xu hướng biến cải giúp con người biết uốn ḿnh theo hoàn cảnh, tự thay đổi cách đối phó của ḿnh để chiến thắng hay thoát nạn. Nói giản dị hơn, xư hướng biến cải là mưu chước người ta thường dùng trong các cuộc tranh đấu, như ngạn ngữ thường nói “mạnh dùng sức, yếu dùng chước” vậy.

3. Hợp quần
Hợp quần là sự tập hợp nhiều người lại với nhau, đoàn kết với nhau. Hợp quần tạo sức mạnh, bởi đó người phải hợp quần với nhau để tranh đấu chung nhau. Câu “nhất hổ nan địch quần hồ” ngụ ư cho ta biết rằng cọp là chúa sơn lâm đó, nhưng sức một ḿnh cũng không chống nổi bầy chồn.
Hợp quần từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cá nhân đến gia đ́nh, từ gia đ́nh đến thị tộc, từ thị tộc đến bộ lạc, từ bộ lạc đến dân tộc. Cho đến nay, hợp quần đến phạm vi dân tộc là sự hợp quần rộng răi nhất mà loài người đă đạt được.
Những cuộc xung đột đẫm máu giữa các dân tộc trong lịch sử đă gây nhiều cảnh t thương tâm thảm mục khiến cho nhiều người đau xót. V́ đó, từ lâu, nhiều người mơn trớn giấc mơ thế giới đại đồng kêu gọi nhân loại kết hợp nhau lại thành một khối duy nhất chấm dứt sự chém giết lẫn nhau để cùng nhau sống trong t́nh huynh đệ thân ái. Nhưng nhân loại có thể sống ḥa b́nh với nhau măi được không? Thế giới đại đồng có thể thực hiện được không?
- Không!
V́ có nhiều nguyên nhân sâu xa chia rẽ loài người khiến cho họ không bao giờ hợp nhất được trong phạm vi thế giới để thực hiện thế giới đại đồng. Những nguyên nhân chia rẽ đó là: sự cung cầu chênh lệch nhau, ư thức đồng loại, bản năng sinh tồn, tính thích vinh quang, tư tưởng bất đồng và thất t́nh.
Về sự cung cầu chênh lệch nhau: bao giờ sự cung ứng không đủ để thoả măn nhu cầu của con người th́ ngày đó có sự tranh chấp nhau. Về ư thức đồng loại th́ bao giờ người cũng ưa (hay thương) người đồng chủng với ḿnh và không ưa (hay ghét) người khác chủng tộc ḿnh. V́ đó mà có kỳ thị. Về bản năng sinh tồn th́ người ta thường rộng răi vị tha với người thân của ḿnh và hẹp ḥi, íck kỷ với người xa lạ. Về tính thích vinh quang th́ ai cũng thích địa vị cao sang, không ai chịu nhường ai nên sự tranh chấp giành ngôi thứ rất mănh liệt. Về tư tưởng bất đồng th́ lịch sử đă cho thấy v́ ư kiến bất đồng mà người Thiên Chúa giáo và người Tin Lành giáo, người Cộng Sản Đệ Tam và người Cộng Sản Đệ Tứ đă tranh đấu nhau đẫm máu. Về thất t́nh (hỉ, nộ, ái, ố, ai, lạc, dục) th́ thường cái vui của người này là cái buồn của người khác, cái sướng của người này là cái khổ của người kia, như trong chuyện mùa thu lá rụng, thi nhân th́ vui sướng, c̣n lăo quét đường th́ buồn khổ...
Tóm lại, v́ có nhiều nguyên nhân chia rẽ loài người nên từ trước đến giờ loài người chưa bao giờ sống ḥa hảo với nhau được, và cũng v́ vậy, thế giới đại đồng bao giờ cũng là giấc mơ không đạt được.

3. Những chủ trương căn bản của Chủ Nghĩa DTST
Mục đích tất yếu của con người trong mọi thời đại là mưu sự sinh tồn. Con người hoạt động chỉ cốt để sinh tồn.
Muốn sinh tồn, phải tranh đấu. Muốn nắm phần thắng trong cuộc tranh đấu, người phải có sức mạnh và có xu hướng biến cải, tức phải biết quyền biến, dùng mưu kế để tranh đấu.
Nhưng đứng riêng rẽ một ḿnh, người rất yếu, không đủ sức nên phải hợp quần nhau lại để có thêm sức mạnh. Sự hợp quần này không thể ở trong phạm vi nhỏ hẹp như gia đ́nh, thị tộc hay bộ lạc nhưng cũng không thể mở rộng đến phạm vi nhân loại (để thực hiện thế giới đại đồng như nhiều người mong ước), v́ có nhiều nguyên nhân chia rẽ loài người. Bởi đó, người chỉ có thể hợp quần chặt chẽ nhau trong phạm vi dân tộc. Trong phạm vi này, người có thể phát tiết ra ngoài những nguyên nhân chia rẽ, nhờ đó, tổ chức dân tộc mới được vững vàng. Vậy sự hợp quần trong phạm vi dân tộc là sự hợp quần rộng răi nhất mà loài người có thể thực hiện được.
Nhưng nếu từ tổ chức dân tộc không được đàng hoàng làm cho sự sinh tồn cá nhân của người bị uy hiếp th́ người có thể chống lại dân tộc để mưu sự sinh tồn cho cá nhân ḿnh. V́ đó, muốn mưu sự sinh tồn của dân tộc, ta phải tổ chức quốc gia như thế nào cho mọi người được sinh tồn đầy đủ và đều có thể phát triển được năng lực sinh tồn của ḿnh. Vậy:
“Kêu gọi mọi người trong dân tộc hợp quần nhau lại đển tranh đấu cho sự sinh tồn chung, rồi tổ chức quốc gia như thế nào để cho mọi người được hưởng đồng đều những kết quả của sự tranh đấu chung đó, làm cho mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự sinh tồn của cá nhân, đó là 
tất cả tinh lư của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn”.
Để thực hiện mục đích này, chủ nghĩa DTST chủ trương:
1. Gây một nền đoàn kết ch của được, và cũng v́ vậy, thế giới đại đồng bao giờ cũng là giấc mơ không đạt được.

3. Những chủ trương căn bản của Chủ Nghĩa DTST
Mục đích tất yếu của con người trong mọi thời đại là mưu sự sinh tồn. Con người hoạt động chỉ cốt để sinh tồn.
Muốn sinh tồn, phải tranh đấu. Muốn nắm phần thắng trong cuộc tranh đấu, người phải có sức mạnh và có xu hướng biến cải, tức phải biết quyền biến, dùng mưu kế để tranh đấu.
Nhưng đứng riêng rẽ một ḿnh, người rất yếu, không đủ sức nên phải hợp quần nhau lại để có thêm sức mạnh. Sự hợp quần này không thể ở trong phạm vi nhỏ hẹp như gia đ́nh, thị tộc hay bộ lạc nhưng cũng không thể mở rộng đến phạm vi nhân loại (để thực hiện thế giới đại đồng như nhiều người mong ước), v́ có nhiều nguyên nhân chia rẽ loài người. Bởi đó, người chỉ có thể hợp quần chặt chẽ nhau trong phạm vi dân tộc. Trong phạm vi này, người có thể phát tiết ra ngoài những nguyên nhân chia rẽ, nhờ đó, tổ chức dân tộc mới được vững vàng. Vậy sự hợp quần trong phạm vi dân tộc là sự hợp quần rộng răi nhất mà loài người có thể thực hiện được.
Nhưng nếu từ tổ chức dân tộc không được đàng hoàng làm cho sự sinh tồn cá nhân của người bị uy hiếp th́ người có thể chống lại dân tộc để mưu sự sinh tồn cho cá nhân ḿnh. V́ đó, muốn mưu sự sinh tồn của dân tộc, ta phải tổ chức quốc gia như thế nào cho mọi người được sinh tồn đầy đủ và đều có thể phát triển được năng lực sinh tồn của ḿnh. Vậy:
“Kêu gọi mọi người trong dân tộc hợp quần nhau lại đển tranh đấu cho sự sinh tồn chung, rồi tổ chức quốc gia như thế nào để cho mọi người được hưởng đồng đều những kết quả của sự tranh đấu chung đó, làm cho mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự sinh tồn của cá nhân, đó là 

bị tàn phá nên vươn lên làm cường quốc số một thế giới. Liên Xô cũng mạnh về chính trị. 
tất cả tinh lư của chủ nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn”.
Để thực hiện mục đích này, chủ nghĩa DTST chủ trương:
1. Gây một nền đoàn kết ch của được, và cũng v́ vậy, thế giới đại đồng bao giờ cũng là giấc mơ không đạt được.

3. Những chủ trương căn bản của Chủ Nghĩa DTST
Mục đích tất yếu của con người trong mọi thời đại là mưu sự sinh tồn. Con người hoạt động chỉ cốt để sinh tồn.
Muốn sinh tồn, phải tranh đấu. Muốn nắm phần thắng trong cuộc tranh đấu, người phải có sức mạnh và có xu hướng biến cải, tức phải biết quyền biến, dùng mưu kế để tranh đấu.
Nhưng đứng riêng rẽ một ḿnh, người rất yếu, không đủ sức nên phải hợp quần nhau lại để có thêm sức mạnh. Sự hợp quần này không thể ở trong phạm vi nhỏ hẹp như gia đ́nh, thị tộc hay bộ lạc nhưng cũng không thể mở rộng đến phạm vi nhân loại (để thực hiện thế giới đại đồng như nhiều người mong ước), v́ có nhiều nguyên nhân chia rẽ loài người. Bởi đó, người chỉ có thể hợp quần chặt chẽ nhau trong phạm vi dân tộc. Trong phạm vi này, người có thể phát tiết ra ngoài những nguyên nhân chia rẽ, nhờ đó, tổ chức dân tộc mới được vững vàng. Vậy sự hợp quần trong phạm vi dân tộc là sự hợp quần rộng răi nhất mà loài người có thể thực hiện được.
Nhưng nếu từ tổ chức dân tộc không được đàng hoàng làm cho sự sinh tồn cá nhân của người bị uy hiếp th́ người có thể chống lại dân tộc để mưu sự sinh tồn cho cá nhân ḿnh. V́ đó, muốn mưu sự sinh tồn của dân tộc, ta phải tổ chức quốc gia như thế nào cho mọi người được sinh tồn đầy đủ và đều có thể phát triển được năng lực sinh tồn của ḿnh. Vậy: 
“Kêu gọi mọi người trong dân tộc hợp quần nhau lại đển tranh đấu cho sự sinh tồn chung, rồi tổ chức quốc gia như thế nào để cho mọi người được hưởng đồng đều những kết quả của sự tranh đấu chung đó, làm cho mọi người thấy rằng tranh đấu cho sự sinh tồn của dân tộc là bảo đảm chắc chắn nhất cho sự sinh tồn của cá nhân".