Quan Hệ Chiến Lượ Giữa Hoa Kỳ, Trung Quốc Và Việt Nam
Bùi Diễm
LTS: Bài thuyết này được tŕnh bày tại buổi Ra Mắt Sách "Sống C̣n Với Dân Tộc" của ông Hà Thúc Kư và cuộc Hội Luận "Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Giữa Hoa Kỳ Và Trung Cộng Tại Biển Đông" do Tân Đại Việt và Đại Việt Cách Mạng Đảng tổ chức ngày 31 tháng 10 năm 2010 tại Houston, Hoa Kỳ.
Trong khoảng thời gian mấy năm gần đây, hiểm họa đè nặng trên đầu dân tộc Việt Nam do chủ trương bá quyền của Trung Quốc quả thực đă quá rơ rệt dưới con mắt của người dân, ở trong cũng như ở ngoài nước. Trên thực tế, Trung Quốc hiện đang t́m cách bành trướng ảnh hưởng xuống miền Nam, trực tiếp đe dọa Việt Nam. Hiểm họa này đă được thể hiện dưới đủ mọi h́nh thức. Từ những luận điệu khiêu khích của một số báo Trung Quốc cho đến những hành động ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh công khai xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và xây cất những cơ sở quân sự tại đây cũng như tại một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Họ coi tất cả vùng Biển Đông như một ao nhà, ngăn cấm ngư dân Việt Nam không được hành nghề ngay trên lănh hải của Việt Nam, rồi từ những chủ trương lặng lẽ xâm nhập nội bộ của Việt Nam bằng cách đấu thầu với giá rẻ hầu hết những công tŕnh xây cất hạ từng cơ sở của Việt Nam, đặc biệt là vụ khai thác mỏ bauxite trên miền Cao Nguyên hay thuê đất dài hạn ở nhiều nơi cho đến những âm mưu ngấm ngầm mua chuộc giới lănh đạo trong hàng ngũ nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, tất cả đều là những sự kiện có thật chứ không phải là những lời phỏng đoán về t́nh h́nh Việt Nam trong lúc này.
Bài viết này không nhằm mục địch đi sâu vào những chi tiết của những sự việc vừa được lược kể trên đây mà mọi người đă rơ qua các cơ quan truyền thông. Bài được viết chỉ là để đóng góp một vài ư kiến và nhận định hết sức thô thiển, may ra có thể làm sáng tỏ được một số câu hỏi đang làm thắc mắc rất nhiều người. Thực ra, tất cả chúng ta đều chung một mối lo, không biết rồi đây nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (hay nói chung người dân Việt Nam ở trong và ngoài nước) sẽ phải đối phó cách nào với hiểm họa đang đe dọa dất nước . Những câu hỏi này từ lâu vẫn tiềm tàng trong dư luận Việt Nam, nhưng gần đây vừa được khơi lại bởi một vài biến chuyển mới, trong số đó có những chỉ dấu cho thấy chính sách của Hoa Kỳ có vẻ như đă tích cực hơn trước đối với những biến chuyển trong vùng Châu Á, Thái B́nh Dương nói chung cũng như đối với t́nh h́nh trong vùng Biển Đông và Việt Nam. Những chỉ dấu này, như chúng ta đă rơ, gồm có trước hết lời tuyên bố khá đầy đủ của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton khi bà tới dự buổi họp Diễn Đàn Khu Vực (ARF) của tổ chức Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được triệu tập hồi cuối tháng 7 vừa qua ở Hà nội. Bà nói: “Hoa Kỳ cũng như các quốc gia khác có quyền lợi về tự do hàng hải trên những thủy lộ chung ở Á Châu, tôn trọng luật pháp trên Biển Đông, chia sẻ quyền lợi này không những với các quốc gia thành viên của ASEAN hay các quốc gia tham dự Diễn Đàn Khu Vực mà c̣n với tất cả những quốc gia khác và cộng đồng quốc tế có nhu cầu hàng hải tại miền biển này”. Bà cũng c̣n nói thêm là “Hoa Kỳ ủng hộ quốc tế hóa việc giải quyết những tranh chấp về hải đảo và hải phận trong vùng trên cơ sở Công Ước Liên Hiệp Quốc về luật biển và chống lại việc bất cứ một quốc gia tranh chấp nào sử dụng vũ lực mặc dầu Hoa Kỳ hoàn toàn có thái độ trung lập trong vấn đề tranh chấp”. Cũng trong khoảng thời gian có lời tuyên bố trên đây về mặt ngoại giao của bà Hillary Clinton, người ta được thấy về mặt quân sự có cuộc thao diễn giữa hải quân Mỹ và Nam Hàn trên miền Bắc Hải, rồi sau đó sự có mặt hồi đầu tháng 8 của hàng không mẫu hạm nguyên tử George Washington của Mỹ ngoài khơi Đà Nẵng (một số giới chức của chính quyền Hà Nội đă được mời ra thăm chiến hạm khổng lồ này) và của khu trục hạm John McCain cập bến Đà Nẵng để sửa soạn thao diễn với hải quân Việt Nam (tuy mới chỉ ở một quy mô giới hạn trong phạm vi gây t́nh hữu nghị giữa hai bên) và một số khu trục hạm khác của Mỹ thuộc hạm đội thứ 7 như những khu trục hạm USS Curtis Wilbur, USS Mc Campbell, USS Chung-Hoon. Ngoài ra trong bối cảnh này người ta không thể không ghi nhận chuyến viếng thăm Indonesia của Bộ Trưởng Quốc Pḥng Mỹ Robert Gates nhằm mục đich nối lại việc hợp tác quân sự với nước này. Nay lại thêm một số diễn biến mới. Ngày 24 tháng 9 mới đây,Tổng Thống Hoa Kỳ Obama đă đến tham dự và chủ tọa cùng với Việt Nam một hội nghị cấp cao của tổ chức ASEAN tại Nữu Ước (theo thể thức luân phiên Việt Nam đang đóng vai Chủ Tịch của tổ chức này). Tuy hội nghị này không có tính cánh đặc biệt nào nhưng sự có mặt của ông Obama cùng với bản tuyên bố chung của buổi họp trong đó có lời kêu gọi các nước trong vùng Biển Đông nên t́m cách giải quyết những vụ tranh chấp trong ḥa b́nh và tránh việc sử dụng vũ lực, cũng được coi như đẩy mạnh những lời cam kết hồi tháng 7 của bà Hillary Clinton về chiều hướng tích cực mới của chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ. Phản ứng nhanh chóng của Bắc Kinh ngay sau buổi họp trên đây, chỉ trích Hoa Kỳ xen lấn vào việc nội bộ của các nước trong vùng biển Đông cho thấy rằng rồi đây chắc sẽ c̣n nhiều biến chuyển trong quan hệ giữa hai nước, nhất là khi Hoa Kỳ đă xác nhận tin ông Bộ Trưởng Quốc Pḥng Gates tháng 10 này sẽ tới Hà Nội để dự một buổi họp do ASEAN tổ chức với sự có mặt của các Bộ Trưởng Quốc Pḥng của 10 nước ASEAN và 8 nước khác thuộc vùng Thái B́nh Dương trong đó có Hoa Kỳ và Trung Quốc. Sự hiện diện này của ông Gates dĩ nhiên là một dấu hiệu về sự chuyển hướng dường như đang được h́nh thành của chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nay muốn đóng một vai tṛ lănh đạo tích cực hơn trước ở Á Châu, đặc biệt là ở miền Biển Đông.
“Mỹ sắp trở lại Việt Nam” là câu nói trên cửa miệng của một số người lúc này. Với tâm trạng lo lắng và suy luận quá nhanh của nhiều người Việt Nam th́ đây cũng không phải là điều mới lạ, nhưng nếu b́nh tâm phân tích những diễn biến về cả hai mặt ngoại giao và quân sự, như đă được lược kể trên đây, th́ dầu Mỹ có trở lại hay không, ai cũng có thể nh́n thấy hoàn cảnh đặc biệt tế nhị của Việt Nam trong hiện tại. Do vị trí địa dư và chiến lược của ḿnh trong vùng biển Đông, Việt Nam bị đặt ngay vào giữa một vùng tranh chấp. Tranh chấp đây không phải chỉ là tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa hay về lănh hải, mà c̣n là giữa Trung Quốc và nhiều nước khác trong vùng, rồi nay tiếp đến lại thêm vụ tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi giữa Trung Quốc, một cường quốc đang lên với nhiều tham vọng và Hoa Kỳ, một siêu cường quốc đang muốn có mặt trở lại tại vùng Biển Đông. Chính hoàn cảnh khó khăn này cùng với những thử thách do hoàn cảnh tạo ra đă làm cho dư luận trong nước và ở ngoài nước đặc biệt trở nên sôi nổi. Rất nhiều người đă đưa ra những câu hỏi hay nhận định đủ loại như: “Cả hai nhà nước Cộng Sản Việt Nam và Trung Quốc đều luôn luôn nói tới t́nh hữu nghị bền chặt giữa hai Đảng và hai Nước, phải chăng chủ trương bá quyền của Trung Quốc chỉ là trong đầu óc tưởng tượng của những người chống nhà nước Cộng Sản Việt Nam?” Về trường hợp những chỉ dấu cho thấy Hoa Kỳ muốn có mặt trở lại ở vùng Biển Đông th́ những câu hỏi lại là “Mỹ có thật sự trở lại để giúp Việt Nam không? Việt Nam có thể trông chờ ǵ ở Mỹ?” hay là “Liệu những tranh chấp về ảnh hưởng và quyền lợi ở Biển Đông có thể đưa đến đụng độ giữa Trung Cộng và Mỹ không?” C̣n về nhận định th́ người ta được nghe những nhận định như nửa đùa nửa thật nhưng có nhiều tính chất dân gian : “Đi với Tầu th́ giữ được Đảng nhưng mất nước” và “Đi với Mỹ th́ giữ được nước nhưng mất Đảng”
Trung Quốc: phát triển trong ḥa b́nh hay tham vọng bá quyền
Nói về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khoảng thời gian ba thập niên trở lại đây th́ không ai phủ nhận được những bước tiến ngoạn mục của nền kinh tế nước này. Kể từ đầu thập niên 80, chủ trương đổi mới của Đặng Tiểu B́nh, mở cửa để đón nhận đầu tư ngoại quốc, đă làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của Trung Quốc. Mới chỉ trong khoảng có gần 30 năm, sau những năm đại loạn người dân đói ăn và chết cả hàng triệu người dưới thời cách mạng văn hóa Mao Trạch Đông, Trung Quốc không những đă kéo ra khỏi cảnh nghèo đói 400 triệu người dân mà c̣n lần lượt vượt qua được những nước lớn về mặt phát triển như Anh, Pháp Đức và cả Nhật Bản để mới gần đây được đứng vào hàng thứ hai trên thế giới sau siêu cường quốc Hoa Kỳ. Hàng hóa do Trung Quốc sản xuất tràn ngập trên thị trường quốc tế (đặc biệt trên thị trường Mỹ, tạo thâm thủng mậu dịch trên dưới hai trăm tỷ mỗi năm cho nước này) và làm cho dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc lên tới con số chưa từng thấy gần hai ngàn tỷ dollars. Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay mà Trung Quốc nhanh chóng đạt được kết quả này th́ quả là môt thành tích không nhỏ trước thềm thế kỷ thứ 21. Nhưng thành tích càng lớn bao nhiêu (đặc biệt đây là trường hợp một nước với dân số hơn một tỷ người) th́ lại càng làm cho những nhà ngoại giao, những quan sát viên hay những nhà phân tích ở khắp mọi nơi phải đặt câu hỏi: “Rồi đây Trung Quốc sẽ xử sự thế nào trên chính trường quốc tế?”
Về câu hỏi then chốt này th́ trong chính giới ở các nước Tây phương, người ta thường cho rằng càng phát triển và hội nhập vào cộng đồng thế giới th́ Trung Quốc sẽ càng phải xử sự thuận theo quy luật chung của các nước tư bản Tây phương. Có nhiều nhà ngoại giao - như ông Robert Zoellick, trước đây là quyền Ngoại Trưởng Hoa Kỳ và nay là Thống Đốc Ngân Hàng Thế giới - cho rằng Trung Quốc đang trở thành một “cổ phần viên có trách nhiệm” (a responsible stakeholder) trên chính trường quốc tế. Nhưng ngược lại, theo như tác giả Stefan Halper (một chuyên gia có thẩm quyền về Trung Quốc và bang giao quốc tế) đă viết trong cuốn sách The Beijing Consensus vừa mới được xuất bản th́ rất nhiều nhà ngoại giao khác –như hai cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh Winston Lord và James Lilley- lại cho rằng Trung Quốc là một nước to lớn quá và t́m hiểu Trung Quốc ngày nay là theo đuổi một mục đích lúc ẩn lúc hiện (an elusive quest). Bảo rằng Trung Quốc đă gặt hái được nhiều thành quả trên đường phát triển th́ đúng nhưng bảo rằng trong nội bộ Trung Quốc c̣n đầy mâu thuẫn và nền kinh tế c̣n rất nhiều yếu điểm th́ cũng không sai, đồng thời người ta cũng có thể bảo rằng Trung Quốc là một láng giềng tốt nhưng lại là một mối đe dọa về mặt quân sự trong tương lai đối với các nước lân bang. Nói tóm lại , tùy theo cách nh́n và nhận định th́ Trung Quốc về mặt đối ngoại có hai bộ mặt mà người viết bài này tạm gọi là Trung Quốc và Trung Cộng. Gọi là Trung Quốc nếu chúng ta dựa vào những lời tuyên bố chính thức của nhà cầm quyền Bắc Kinh: Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào vẫn thường hay nói đến một thế giới hài ḥa (an harmonious world) hay một xă hội hài ḥa (an harmonious society) và sự phát triển của Trung Quốc là phát triển trong ḥa b́nh. Riêng đối với trường hợp của nước bạn đàn em Việt Nam th́ đă có “t́nh hữu nghị bền chặt giữa hai nước và hai đảng” cùng với khẩu hiệu 16 chữ vàng và 4 cái tốt luôn luôn được nhắc tới mổi khi có buổi họp giữa hai bên. Hơn nữa lại c̣n Quy Ước Ứng Xử được kư kết giữa các nước trong khối ASEAN và Trung Quốc năm 2002 theo đó những nước trong vùng và Trung Quốc cam kết sẽ không dùng vơ lực trong những vụ tranh chấp. C̣n nếu gọi là Trung Cộng th́ người ta phải nghĩ ngay tới chủ trương và hành động xâm lược những hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, những lời tuyên bố vùng bể Biển Đông thuộc quyền lợi “cốt lơi” của Bắc Kinh, ngang hàng với những vấn đề như Đài Loan, Tây Tạng và Tân Cương. Ngoài ra, người ta cũng không quên được sự kiện ngân sách quốc pḥng của Trung Cộng hàng năm tăng lên gấp bội (được ước lượng là từ 105 đến 150 tỷ dollars năm 2008, so với trên dưới 50 tỷ hai ba năm về trước), cũng như việc xây cất căn cứ hải quân lớn Yulin tại đảo Hải Nam và sự có mặt thường xuyên của một lực lượng hải quân khá hùng hậu trong vùng Biển Đông hay thái độ hung hăng của Trung Cộng gần đây đ̣i Nhật Bản phải xin lỗi trong vụ đụng độ giữa những tầu đánh cá của hai nước gần đảo Senkoku-Điếu Ngư đang trong ṿng tranh chấp ở miền Tây Thái B́nh Dương. Về cả hai bộ mặt Trung Quốc và Trung Cộng vừa được mô tả trên đây, có lẽ không ai biết rơ hơn là nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội. C̣n đối với tất cả những ai đă đọc qua sử Việt Nam th́ Trung Quốc hay Trung Cộng cũng chỉ là một nước Tầu mà dân tộc ta đă phải chịu đựng cả ngàn năm qua hai thời kỳ Bắc thuộc, nay lại nuôi tham vọng đè đầu đè cổ cai trị Việt Nam.
Hoa Kỳ có thay đổi chính sách đối với Trung Quốc không?
Nếu đem so sánh những lời tuyên bố của bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton hồi cuối tháng 7 ở Hà Nội về vấn đề biển Đông với những lời tuyên bố của bà hồi đầu năm 2009 khi bà tới Bắc Kinh lần đầu tiên với tư cách là Ngoại Trưởng của chính quyền Obama th́ ai cũng phải thấy sự khác biệt. Hồi đó, thuận theo chủ trương về mặt ngoại giao của ông Obama “tiếp cận và đối thoại” (engagement and dialogue) bà chỉ nói đến nhu cầu hợp tác giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trên hai lănh vực an ninh quốc tế và kinh tế mà không đả động ǵ đến những vấn đề tế nhị như chính trị hay nhân quyền. Phải chăng v́ vậy mà tại buổi họp của Diễn Đàn Khu Vực ở Hà Nội, khi bỗng nhiên nghe thấy bà xác định lập trường của Hoa Kỳ về những vấn để Biển Đông, Ngoại Trưởng Trung Quốc Dương Khiết Tŕ có cảm tưởng là Trung Quốc bị tấn công bất ngờ? Ông giận dữ phản đối và như để nhần mạnh một cách rơ ràng hơn thái độ phản đối này, ngay sau buổi họp của ASEAN với Tổng Thống Obama ở Nữu Ước ngày 24 tháng 9, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc lên tiếng chỉ trích bản thông cáo chung của buổi họp (trong đó có môt vài điều khoản nói lên sự cam kết của Hoa Kỳ đối với ASEAN) cho rằng Hoa Kỳ chủ trương xen lấn vào những việc thuộc Biển Đông. T́nh trạng mới này đúng là một trường hợp may mắn đối với những nước nhỏ ven bờ Biển Đông và đặc biệt đối với Việt Nam: đang bị đe dọa bởi một nước quá lớn, quá mạnh th́ lại được một siêu cường quốc ghé vai ủng hộ. Sự ủng hộ này có phải là một phản ứng nhất thời hay là một phần của một chiến lược lâu dài của Hoa Kỳ trong tương lai không, chưa ai được rơ, nhưng trong hiện tại, nếu phải đối phó với những đe dọa ngay trước mắt th́ ít nhất trên phương diện nguyên tắc Việt Nam và những nước trong ṿng tranh chấp với Trung Quốc cũng có thể tin được là Hoa Kỳ sẽ đứng về phía họ, lợi điểm mà họ cần phải nuôi dưỡng.
Một vài nhận định về chính sách đối ngoại của Mỹ và quan hệ Mỹ-Trung
Trên đây là nói về trường hợp những nước trong vùng Biển Đông, c̣n nếu nói đến những nước Á Châu nói chung th́ để đối phó với sức mạnh bành trướng của Trung Quốc, không nước nào là nước không trông chờ và mong mỏi Mỹ có mặt thường xuyên trên vùng biển Thái B́nh Dương. Tất nhiên không ai ngạc nhiên về sự trông chờ hay mong mỏi này v́ chỉ có Mỹ mới có đủ khả năng ngăn chặn ảnh hưởng và tham vọng mỗi ngày một lớn củaTrung Quốc. Nhưng Mỹ có muốn cán đáng trách nhiệm này không và quan hệ Mỹ-Trung lúc này ra sao?
Nước Mỹ là một siêu cường quốc hùng mạnh có ảnh hưởng bao trùm trên thế giới, đồng thời cũng lại là một nước có truyền thống dân chủ vững chắc. Truyền thống này có những nét đặc thù ảnh hưởng không ít đến sinh hoạt chính trị của mọi ngành, mọi giới trong xă hội. Nh́n từ bên ngoài vào th́ t́m hiểu về chính sách đối ngoại của Mỹ không khó. Thể chế dân chủ của Mỹ thật là cởi mở và mọi hoạt động của các tổ chức chính trị và hai đảng lớn là Dân Chủ và Cộng Ḥa đều là những hoạt động hoàn toàn công khai. C̣n về báo chí của Mỹ th́ không ai có thể nói là thiếu tự do được, do đó mà đường lối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ thường ngày được mang ra công khai bàn căi trên mọi cơ quan truyền thông. Nhưng cũng chính v́ tính chất dân chủ công khai này mà vấn đề trở nên phức tạp. Sự h́nh thành của bất kỳ một chính sách nào, đối nội cũng như đối ngoại, đều tùy thuộc vào sự tác động giữa những trung tâm quyền lực mà ba thành phần chính là Ṭa Bạch Ốc (Hành Pháp), Quốc Hội (Lập Pháp) và các cơ quan truyền thông (Dư Luận). Trên nguyên tắc th́ vấn đề t́m hiểu có vẻ dễ v́ chỉ có ba trung tâm quyền lực chính trên đây nhưng trên thực tế th́ vấn đề hết sức khó khăn v́ ngay trong nội bộ của mỗi trung tâm quyền lực có cả đến hàng chục trung tâm quyền lực nhỏ khác xâu xé lẫn nhau để tranh dành ảnh hưởng. Ngoài ra lại c̣n dư luận luôn luôn thay đổi do ảnh hưởng của các cơ quan truyền thông, v́ vậy mà nếu nói tới chính sách đối ngoại của Mỹ th́ phải hỏi ở vào “thời điểm nào?” v́ thái độ của hôm nay rất có thể sẽ không c̣n là thái độ của ngày mai. Trong trận chiến tranh Việt Nam, tháng 8, 1964, Tổng Thống Mỹ Johnson được gần như toàn thể Thượng Viện và Hạ Viện (533 phiếu thuận trong tổng số 535Thượng nghị sĩ và Dân biểu tại Quốc Hội) ủng hộ chính sách giúp Miền Nam Việt Nam chống Cộng Sản (Tonkin Resolution), thế mà chỉ vài ba năm sau, phong trào phản chiến đă soay ngược lại t́nh thế để rồi Mỹ lần lần kiếm giải pháp ra đi và bỏ rơi Việt Nam. Thực ra chỉ có trong thời gian gần 50 năm chiến tranh lạnh người ta mới được thấy một chính sách đối ngoại liên tục qua các nhiệm kỳ của nhiều Tổng Thống khác nhau, đó là chính sách ngăn chặn Cộng Sản (containment policy) c̣n về sau này th́ nhiều khi người ta đă được thấy chính sách thay đổi một cách tương đối dễ dàng mỗi khi có một chính quyền mới được bầu lên. Tổng Thống George W.Bush chủ trương một hệ thống pḥng thủ bằng hỏa tiễn ở Âu Châu và phải tốn rất nhiều công sức để thuyết phục Ba Lan và Tiệp Khắc chấp nhận. Nhưng rồi Tổng Thống Obama mới lên cầm quyền lại bỏ ngay chủ trương của ông Bush và thay thế bằng một chủ trương khác làm cho hai chính phủ Ba Lan và Tiệp Khắc ngỡ ngàng không c̣n biết xử trí ra sao và làm cho dư luận ở nhiều nơi đặt vấn đề về mức độ “khả tín” của chính sách Hoa Kỳ. Đối với những nước nhỏ như trên đây đă vậy nhưng c̣n đối với những nước lớn mà tầm quan trọng có thể có ảnh hưởng đến nền ḥa b́nh chung trên thế giới hay an ninh của cả một Châu hay một Vùng th́ sao? Và đây chính là câu hỏi mà những năm gần đây các quan sát viên quốc tế thường nêu lên mỗi khi đề cập đến mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung
Quốc.
Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay không có nuớc nào, lớn hay nhỏ, có thể sống biệt lập được, nhưng nếu nói đến quan hệ giữa một nước này hay một nước khác th́ ai cũng phải nh́n nhận là mối quan hệ Mỹ-Trung, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đặc biệt có ảnh hưởng quyết định đến nhiều nước khác. Tương lai của cả vùng Châu Á, Thái B́nh Dương và nói rộng ra nền ḥa b́nh trên thế giới, một phần không nhỏ, sẽ tùy thuộc vào những biến chuyển trong mối quan hệ giữa hai nước này. Một bên là siêu cường quốc Hoa Kỳ, có quyền lợi và ảnh hưởng ở khắp mọi nơi và một bên là Trung Quốc với một dân số hơn 1,3 tỷ người, nay sau ba thập niên liên tục phát triển đă trở thành một cường quốc kinh tế trên đường cạnh tranh với Hoa Kỳ. Đây là một mối quan hệ phức tạp, đa dạng, bao gồm cả mọi mặt, từ chính trị, kinh tế đến chiến lược và ổn định, an ninh. Về chính trị th́ rơ ràng là giữa hai nước khó có thể có sự đồng thuận về những vấn đề như tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo (như trong trường hợp Pháp Luân Công) nhưng về kinh tế th́ trái lại, cả hai bên đều bị đặt vào một hoàn cảnh quyền lợi tṛng tréo, Trung Quốc cần có thị trường của Mỹ để xuất cảng hàng hóa và nuôi dưỡng đà phát triển trong khi đó th́ Mỹ cũng cần đến Trung Quốc để có môi trường đầu tư, xuất cảng máy móc chế biến và đồng thời để giảm bớt t́nh trạng thâm thủng mậu dịch bằng cách bán công khố phiếu cho Trung Quốc. C̣n về mặt chiến lược và an ninh vùng th́ ít nhất trong hiện tại, Trung Quốc cần có ổn định để có thể tiến tới trên đường phát triển và giữ vững tư thế một cường quốc đang lên. T́nh trạng này dĩ nhiên luôn luôn thay đổi với thời gian. Trước đây vào thời điểm Trung Quốc c̣n đang trong giai đoạn đầu của những năm phát triển th́ có lẽ Mỹ không cần quan tâm đến mức tăng trưởng về mặt quốc pḥng của Trung Quốc, nhưng bây giờ th́ lại khác hẳn, nhiều chiến lược gia đă bắt đầu lo ngại về chương tŕnh hiện đại hóa về mặt quân sự của Bắc Kinh, lo rằng chương tŕnh này sẽ cho Bắc Kinh cơ hội để theo đuổi những tham vọng bành trướng. Nói cho đúng th́ hai nước v́ quyền lợi bắt buộc phải hợp tác với nhau, nhưng lưôn luôn vẫn phải dè chừng lẫn nhau. Ngoài ra nhiều khi mối quan hệ cũng trải qua những thời kỳ mà người ta thường gọi là “nay căng thẳng, mai ḥa hoăn”. Căng thẳng th́ người ta phải kể đến những khủng hoảng dưới thời chính quyền Clinton (Mỹ ném bom lầm xuống ṭa Đại Sứ Trung Quốc ở Belgrade, Nam Tư, Hạm Đội 7 của Mỹ tiến vào eo biển Đài Loan để t́m cách ngăn ngừa đụng độ giữa Trung Cộng và Đài Loan) hay dưới thời chính quyền Bush (mày bay Mỹ phải hạ cánh xuống đảo Hải Nam và quân nhân Mỹ bị tạm giữ). C̣n ḥa hoăn th́ người ta nghĩ đến chuyến viếng thăm của Chủ Tịch Giang Trạch Dân khi ông đến trang trại của ông Bush miền Texas hay chuyến viếng thăm Bắc Kinh của ông Obama và cuộc hội đàm thân mật giữa ông và Chủ Tịch Hồ Cẩm Đào tháng 11 năm 2009. Và một tỷ dụ điển h́nh gần đây là bầu không khí căng thẳng do những lời tuyên bố của bà Hillary Clinton về Biển Đông và những lời đối đáp chống lại của ông Dương Khiết Tŕ. Căng thẳng nhưng rồi ḥa hoăn lại trở lại ngay sau khi có cuộc viếng thăm Bắc Kinh của hai nhân viên cao cấp ṭa Bạch Ốc, ông Larry Summers, Cố Vấn kinh tế của ông Obama và ông Dolidon, người vừa được cử thay thế tướng Jim Jones trong chức vụ Cố Vấn An Ninh Quốc Gia tại ṭa Bạch Ốc. Đặc biệt hơn cả về t́nh trạng ḥa hoăn mới này là lời mời của Trung Quốc (nhân dịp hai Bộ Trưởng Quốc Pḥng Trung Quốc và Hoa Kỳ gặp nhau ngày 11 tháng 10 mới đây ở Hà Nội tại một hội nghị cấp cao do ASEAN tổ chức) mời ông Gates viếng thăm Bắc Kinh đầu năm tới để nối lại mối quan hệ quốc pḥng giữa hai nước bị đ́nh hoăn từ ngày đầu năm v́ Hoa Kỳ bán khí giới cho Đài Loan. Nói tóm lại, hợp tác hay canh chừng lẫn nhau, căng thẳng hay ḥa hoăn, nóng hay lạnh, và ngay cả đến xác suất một sự đụng độ lớn có thể xẩy ra không, quan hệ Mỹ-Trung sẽ c̣n dành cho những người theo dơi t́nh h́nh nhiều biến chuyển trong tương lai. Tất nhiên, do vị trí địa dư và hoàn cảnh đất nước đang bị đe dọa, số phận của Việt Nam sẽ không thoát khỏi ảnh hưởng của những biến chuyển này.
Việt Nam đi với Tầu hay với Mỹ th́ bảo vệ được chủ quyền?
Kể từ những ngày nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam 10 năm trước đây kư kết với Trung Cộng một số hiệp ước về biên giới trên bộ và lănh hải trong vịnh Bắc Bộ, trên thực tế Việt Nam đă mất đất, mất biển. Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa cũng rơ ràng đă mất và Nhà Nước không những không bảo vệ được những ngư dân lương thiện hành nghề ngay tại những vùng biển thuộc lănh hải Việt Nam mà c̣n đàn áp cả những cuộc biểu t́nh của các anh chị em sinh viên yêu nước chống Trung Cộng. Ngoài ra nếu có thái độ chống đối th́ chỉ là qua một vài lời phản kháng ngoại giao có tính cách chiếu lệ. T́nh trạng này cho thấy Hà Nội quá khiếp nhược trước áp lực của nước bạn đàn anh và chính trong lúc dư luận đang băn khoăn không hiểu với cái đà này th́ đất nước sẽ đi về đâu mà người ta được nghe những lời tuyên bố hứa hẹn dễ nghe của bà Hillary Clinton. Và có lẽ cũng từ đó mà có những câu hỏi “đi với Tầu hay đi với Mỹ?”
Đi với Tầu th́ Đảng Cộng Sản Việt Nam đă chủ trương chính sách này từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990 giữa giới lănh đạo của hai nước. Hồi đó, do nhu cầu của t́nh thế trong khi Liên Bang Sô Viết và khối các nước Đông Âu đang trên đường sụp đổ, hai bên đă bảo nhau nuốt những lời lẽ đắng cây coi nhau như thù địch của thời kỳ chiến tranh biên giới năm 1979 để ngồi lại gần nhau. Từ ngày ấy cho đến nay đă 20 năm, t́nh trạng này vẫn c̣n tồn tại bằng những khẩu hiệu bề ngoài như như 16 chữ vàng hay 4 cái tốt. Tồn tại ở đây tuy nhiên chỉ là trên nguyên tắc mà thôi, vả lại trên thực tế th́ chế độ Hà Nội cũng không c̣n đường nào khác. Một mặt v́ ư thức hệ, một mặt khác v́ lư do thực tiễn, mô thức “cởi mở” về kinh tế nhưng “ siết chặt” về chính trị của nước bạn đàn anh là một mô thức hợp với giai cấp lănh đạo Cộng Sản Việt Nam nhất để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của họ. Hiện tại đă vậy, nhưng rồi đây tương lai sẽ ra sao? Để trả lời câu hỏi này, có lẽ không mấy người Việt Nam có thể lạc quan nghĩ rằng chủ quyền của đất nước sẽ được bảo vệ về lâu về dài khi phải chứng kiến gần đây, năm này qua năm khác, chủ trương “gậm nhấm”, t́m cách đồng hóa Việt Nam dưới mọi h́nh thức của Trung Cộng. Lúc đó nếu c̣n Đảng th́ Đảng sẽ chỉ c̣n là một cái đuôi vẫy theo cái đầu ở Bắc Kinh. Đi với Tầu theo kiểu này th́ chắc sẽ không khá được, chủ quyền của đất nước sẽ mất dần và Đảng cũng sẽ chỉ là một đám người phục vụ ngoại bang. Đây là một viễn tượng bi đát, vô cùng khó khăn cho bất kỳ ai c̣n nghĩ đến sự trường tồn của dân tộc, và trong hoàn cảnh ấy, ai là người không nghĩ đến giải pháp đi với Mỹ, nhất là trong khi Mỹ lại công khai nói rơ ư muốn đóng một vai lănh đạo tích cực hơn trước ở Á Châu và Biển Đông?
Nhưng đi với Mỹ có được không? Đi với Mỹ để cứu nước và để có cơ hội loại bỏ đảng Cộng Sản th́ ai mà không muốn, nhưng … vấn đề không đơn giản. Trước hết nếu khách quan nh́n vào đối tượng Mỹ th́ ai cũng phải nh́n nhận Hoa Kỳ là một nước vừa giầu vừa mạnh, hơn nữa rơ ràng Hoa Kỳ không có tham vọng đất đai ở Việt Nam, ngoài ra giá trị cổ truyền cao đẹp của Mỹ lúc nào cũng là tự do, dân chủ và nhân quyền, nếu không nhờ Mỹ th́ nhờ ai? Do đó trông chờ vào Mỹ là điều hợp lư và tranh thủ được sự ủng hộ của Mỹ không những là điều nên làm mà c̣n là điều cần làm. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là t́m được câu trả lời cho câu hỏi: người Việt Nam có thể trông chờ được vào người Mỹ tới mức nào? Phạm vi nhỏ hẹp của bài viết này không cho phép chúng ta trở lại những lỗi lầm hay mâu thuẫn của Hoa Kỳ trong trận chiến tranh Việt Nam đưa đến thảm trạng mà hậu quả c̣n kéo dài cho đến ngày nay cho cả hai dân tộc. Tuy nhiên, một vài nhận xét về nền dân chủ thông thoáng nhưng bất trắc của Hoa Kỳ cùng với những biến chuyển trên thế giới những năm gần đây cũng có thể cho thấy là dầu cho Hoa Kỳ thành thực có thiện chí muốn giúp một nước nào đó th́ sự giúp đỡ cũng bị giới hạn nhiều. Bị ràng buộc bởi những nhu cầu chính trị nội bộ và sự suy sụp của nền kinh tế như hiện nay hay bị vướng mắc bên ngoài bởi hai cuộc chiến Irak và Afghanistan, Hoa Kỳ thường gặp khó khăn theo đuổi đến nơi đến chốn chính sách của ḿnh. Nói như vậy không có nghĩa là Mỹ đă mất hết ảnh hưởng trên chính trường quốc tế, nhưng nếu Việt Nam muốn trông chờ vào Mỹ về một phương diện nào đó th́ cũng nên thận trọng t́m hiểu những giới hạn mà thực tế không cho phép bất kỳ một chính quyền nào của Mỹ, dầu là Cộng Ḥa hay Dân Chủ, vượt ra khỏi được. C̣n xa hơn nữa, nếu muốn t́m một thế liên minh chiến lược với Mỹ th́ vấn đề lại thêm nhiều phần phức tạp. Vận động quốc tế, dựa vào ảnh hưởng của Mỹ để cùng với những nước trong Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) chế ngự đà bành trướng của Trung Cộng tại Biển Đông th́ bắt buộc phải là hướng đi trước mắt cho Việt Nam nhưng nếu liên minh chiến lược có nghĩa là trong tương lai Việt Nam sẽ phải trở thành “tiền đồn” cho một thế lực này chống thế lực khác th́ kinh nghiệm của trận chiến tranh Việt Nam cho thấy đó là điều phải tránh. Hơn thế nữa, nói đến liên minh th́ cũng không nên quên là ngược ḍng lịch sử, nh́n lại những trường hợp như Hưng Đạo Vương đời Trần chống quân Nguyên, B́nh Định Vương đời Lê chống quân Minh, và Vua Quang Trung chống quân nhà Thanh th́ vào những thời ấy chỉ có dân tộc Việt Nam đơn thương độc mă dưới sự lănh đạo của những anh hùng dân tộc chống ngoại xâm chứ có trông chờ được vào liên minh nào đâu?
Hoàn cảnh khó khăn hiện tại của đất nước
Bài toán khó khăn của đất nước trong lúc này là chế độ độc tài đảng trị của những người Cộng Sản. Đất nước bị đe dọa bởi chính nước bạn đàn anh của họ. Có lẽ trong hàng ngũ lănh đạo của họ cũng có người nh́n thấy hiểm họa và mong chờ người Mỹ nhưng đảng của họ há miệng mắc quai nên không làm thế nào hơn được là phản kháng cho có lệ, c̣n về tương lai của dân tộc th́ đành phó thác cho thời vận. Buông trôi th́ viễn tượng bị đồng hóa lâu dần cũng trở thành hiện thực, c̣n nếu phải đối phó với xâm lăng trực tiếp th́ lấy ǵ mà chống chọi lại được với lực lượng uy hiếp của Trung Cộng nay đă được hiện đại hóa? Hai việc phải làm là vận động quốc tế và trở về với dân tộc để có thế đứng vững chắc th́ họ không làm hay không dám làm, trong khi đó th́ lại đàn áp dân chủ và tôn giáo để tự đặt ḿnh vào hoàn cảnh bị tách rời ra khỏi dân tộc, thành thử ra nếu trong hiện tại nói về hoàn cảnh khó khăn của đất nước th́ hoàn cảnh đó thực sự bắt nguồn từ chế độ Cộng Sản độc tài đang ngự trị trên đầu dân tộc Việt Nam. Chừng nào c̣n chế độ này th́ người dân Việt Nam không có cơ hội đóng góp để bảo vệ chủ quyền đất nước. Người dân Việt Nam chỉ một ḷng một dạ, hăng hái đứng dậy để chống ngoại xâm (như đă từng làm trong lịch sử) nếu cảm thấy được là chống ngoại xâm có nghĩa là sẽ được sống dưới một chế độ thực sự dân chủ mang lại tự do và công bằng xă hội cho mọi người.
Trên đây là nói về trường hợp người dân sống ở trong nước, nhưng c̣n trường hợp hơn 3 triệu người dân Việt Nam hay gốc Việt Nam sống ở nước ngoài th́ sao? Nếu gặp phải giả thuyết Việt Nam bị Trung Cộng trực tiếp tấn công và kêu gọi “toàn dân kháng chiến” th́ sao? Về trường hợp giả thuyết này (mà xác suất có lẽ ít hơn là trường hợp lâu dần bị đồng hóa) có người đă lên tiếng cho rằng phải chống kẻ thù chung truớc đă. Viết đến đây, người viết bài này không khỏi nghĩ ngay đến trường hợp của đất nước khi toàn thể dân tộc muốn đứng lên để tranh đấu giành lại độc lập từ tay người Pháp năm 1945. Tất cả những người yêu nước, tất cả những đảng phái quốc gia đều một ḷng chống Pháp nhưng chính quyền lúc ấy nằm trong tay đảng Cộng Sản và đánh Tây th́ phải sắp hàng đứng sau đảng Cộng Sản. Thử hỏi, trong giai đoạn ấy, từ đảng Xă Hội và Dân Chủ (gần với đảng Cộng Sản) cho đến những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng và tất cả những tổ chức khác ở ngoài Bắc và trong Nam, có tổ chức nào thoát khỏi được bàn tay sắt của những người Cộng Sản khi họ chủ trương tận diệt những nhóm khác với họ không? Hết thời chống Pháp lại đến thời chống Mỹ, thử hỏi Mặt Trận Giải Phóng và Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam sống được bao lâu sau 1975?
Ở vào thời đại toàn cầu hóa ngày nay, dư luận của cộng đồng các nước trên thế giới có một ảnh hưởng vô cùng to lớn. Cho đến nay, trên đường phát triển Trung Quốc đă tỏ ra hết sức lo lắng bảo vệ thanh danh của ḿnh trên chính trường quốc tế và luôn luôn nhắc lại những lời tuyên bố chống chủ trương bá quyền. Nếu Trung Quốc công khai xâm lấn Việt Nam th́ hành động này chắc chắn sẽ bị dư luận ở khắp mọi nơi lên án. Lúc đó cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nếu không được cơ hội cầm súng chống ngoại xâm, th́ cũng sẽ được cơ hội giúp vào việc vận động quốc tế, góp một phần không nhỏ vào công cuộc cứu nước.
Kết luận
Bài viết đă dài, quyền lợi dân tộc là vấn đề trọng đại. Người viết bài này không có cao vọng đưa ra đề nghị này hay đề nghị khác mà chỉ làm công việc đưa ra một số nhận định về những việc đă xẩy ra, mong rằng sẽ làm sáng tỏ được một số vấn đề đang là mối quan tâm của tất cả những người ở trong và ngoài nước, nghĩ tới sự trường tồn của dân tộc, đang tranh đấu nhằm giải thể chế độ Cộng Sản để toàn dân xây dựng một nước Việt Nam thực sự dân chủ, tôn trọng nhân quyền và công bằng xă hội, sống yên lành với các nước lân bang.
Bùi Diễm - Hoa Thịnh Đốn, ngày 12 tháng 10, 2010