|
“Chính Quyền phải được sự đồng
thuận của Lưỡng Viện Quốc Hội…Trong
ṿng mười ngày sau khi được thành
lập, Chính Quyền phải tŕnh diện trước
Quốc Hội để được Quốc
Hội tín nhiệm” (Điều 94, đoạn 1 và
3 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Chúng tôi vừa trích dẫn nội dung và xuất
xứ của điều khoản về mối tương
quan giữa Chính Quyền và Quốc Hội Ư
Quốc, một Quốc Gia Đại Nghị Chế.
Trong Đại Nghị Chế, để khởi
đầu hoạt động thực hiện
đường lối chính trị quốc gia, Chính
Quyền phải được sự tín nhiệm
của Lưỡng Viện Quốc Hội, cơ quan
dân cử, tiếng nói phát biểu lư tưởng,
nhu cầu và ước vọng của người dân.
Nói cách khác trong thể chế dân chủ, điều
kiện tiên quyết để chứng tỏ
Quốc Gia là một tổ chức dân chủ, chính
là sự đồng nhứt chính kiến giữa dân
chúng bị trị và Chính Quyền thừa hành
quyền lực được dân chúng giao phó.
Sự đồng nhứt chính kiến đó luôn luôn
phải được đặt dưới sự
giám sát của Quốc Hội, cơ quan dân cử, nói
lên ư muốn, nhu cầu và mơ ước tương
lai mà người dân muốn thực hiện cho
cuộc sống Quốc Gia và cho mỗi người
cá nhân.
Quốc Hội luôn luôn kiểm soát chính hướng
Quốc Gia
- trước khi Chính Quyền bắt đầu thi hành,
bằng cách tín nhiệm Chính Quyền, “chuẩn y
” Chính Quyền hay đúng hơn, đồng
thuận đường lối Chính Quyền đề
ra khi đến xin Quốc Hội tín nhiệm,
- đang khi Chính Quyền hành xử quyền lực
Quốc Gia, bằng các đạo luật cắt xén,
thêm vào hay điều chỉnh, các đồ án
đă được hoạch định, xem Chính
Quyền có tôn trọng thời điểm và
bậc thang giá trị ưu tiên, hay c̣n hợp
với chính hưóng Quốc Gia hay không,
- đặt nghi vấn, điều tra, cảnh cáo Chính
Quyền, nếu có những lệch lạc,
- và sau cùng, nếu Chính Quyền không hiệu năng,
bất lực, thiên vị, bè phái hay không có
thiện chí muốn sửa đổi, Quốc
Hội biểu quyết bất tín nhiệm, bắt
buộc theo luật Hiến Pháp, Chính Quyền
phải từ chức.
Qua những duyệt xét vừa kể, chúng ta
thấy rằng Quốc Hội trong Đại
Nghị Chế không chỉ có bổn phận
giải thích các luật hiến pháp bằng
những đạo luật định chế cho các
cơ chế Quốc Gia, mà c̣n cùng hợp tác
với Chính Quyền định hướng, sửa
đổi những sai trái, xác định thời
điểm, thứ tự trước sau tùy theo
bậc thang giá trị, theo tinh thần đă
được Hiến Pháp xác định, để
thực hiện chính hướng Quốc Gia.
Trong Đại Nghị Chế, Quốc Hội là cơ
quan định hướng và bảo đảm
thực hiện đường lối chính trị
Quốc Gia ( Politica, Politique, Politik, Policy), phương
thức điều hành Quốc Gia để đem
lại lợi ích chung và cho từng người trong
Cộng Đồng ( quan niệm Polis, Thị Xă
của thời Cộng Hoà Athène Hy Lạp).
Quốc Hội hướng dẫn đường
lối chính trị Quốc Gia
- không những chỉ xác định mục đích
cần đạt được,
- kiểm soát tư cách hành xử và hiệu năng
của Chính Quyền,
- xác định các phương thế luật pháp
và phương tiện vật chất cần
thiết để thực hiện,
- nhận định tiến tŕnh đang thực
hiện, đă đạt được bao nhiêu và
đang ở trong t́nh trạng nào, so với thời
gian nhiệm kỳ của Chính Quyền.
Hoạt động hướng dẫn đường
lối chính trị Quốc Gia trước hết
để đáp ứng lại việc phân chia
phận vụ khác nhau giữa nhiều cơ chế
có quyền tự lập, xác định và kiểm
soát hoạt động của những cơ chế
đó theo tiến tŕnh thời gian, phối hợp các
hoạt động riêng biệt thành chính hướng
chung và cùng hoạt động đều ḥa,
nhịp nhàn để đạt được
kết quả mong muốn ( Chieli, Funzione di Governo,
indirizzo politico, sovranità popolare, in Amato-Barbera ( a cura di),
Manuale di Diritto Pubblico, Giuffré, Milano 1969).
Ba giai đoạn:
Hoạt động thực hiện đường
lối chính trị Quốc Gia gồm ba giai đoạn:
- giai đoạn một: xác định lư tưởng
và mục đích mà các hoạt động Quốc
Gia phải thực hiện,
- giai đoạn hai: xác định phương
tiện: phân chia phận vụ cho các cơ chế khác
nhau, tiền liệu các phương thế luật
pháp, diển tả lư tưởng thành những
đạo luật thực định ( lois positives) và
tiền liệu các phương tiện vật
chất cần thiết để thực hiện,
- giai đoạn ba: thực hiện: áp dụng
luật pháp và dùng các phương tiện vật
chất trong những hoạt động thực
hiện để đạt được mục
đích.
I – Xác định lư tưởng.
Nói một cách tổng quát, lư tưởng mà
Quốc Gia được tổ chức để
thực hiện đă được Hiến Pháp nêu
lên ở phần những nguyên tắc căn bản.
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc đă dành 13 điều
khoản đầu làm nguyên tắc căn bản và
khai triển thêm các nguyên tắc đó suốt 54
điều khoản đầu tiên của Hiến Pháp,
trước khi đề cập đến phương
thức tổ chức cơ chế Quốc Gia, để
đạt được mục đích được
xác định.
Một cách ngắn gọn, suốt 54 điều
khoản được đề cập, Hiến Pháp
1947 Ư Quốc khai triển các nguyên tắc, chuẩn
định các giá trị phải được
bảo vệ thành bậc thang giá trị, đă
được tiêu biểu trong hai điều
khoản đầu của Hiến Pháp, điều 2
và điều 3:
- “Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo
đảm các quyền bất khả xâm phạm
của con người, con người như cá nhân
hay con người như thành phần xă hội, nơi
mỗi cá nhân triển nở nhân cách của ḿnh…”
(Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
- “Mọi công dân đều có địa vị xă
hội ngang nhau và b́nh đẳng trước pháp
luật, không phân biệt phái giống, chủng
tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều
kiện cá nhân hay xă hội”.
- Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp
bỏ đi những chướng ngại vật
về phương diện kinh tế và xă hội, là
những chướng ngại trong khi thật sự
giới hạn tự do và b́nh đẳng của người
dân, không cho phép họ triển nở hoàn hảo con
người của ḿnh và tham dự một cách
thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh
tế và xă hội của xứ sở” (Điều
3, đoạn 1 và 2, id.).
Nói cách khác, mục đích của tổ chức
Quốc Gia chính là con người.
Quốc Gia được tổ chức cho con người,
để phục vụ con người
“… triển nở hoàn hảo con người
của ḿnh và tham dự một cách thiết thực
vào tổ chức chính trị, kinh tế và xă
hội của xứ sở”.
Đó là lư tưởng được Hiến Pháp
nêu ra một cách tổng quát, định hướng
cho thể chế và cơ chế Quốc Gia.
Lư tưởng định hướng đó, trong
Đại Nghị Chế được Hiến Pháp
giao cho Quốc Hội và Chính Quyền cùng nhau
soạn thảo ra những quy luật, chương tŕnh
để thực hiện.
Sự cộng tác giữa Quốc Hội và Chính
Quyền để thực hiện lư tưởng
của Hiến Pháp, trong cụ thể được
biến thành đường lối chính trị
Quốc Gia, qua thể thức Chính Quyền được
Quốc Hội tín nhiệm lúc khởi đầu, trước
khi Chính Quyền khởi đầu hành xử
quyền lực Quốc Gia:
- “Chính Quyền phải được sự tín
nhiệm của Quốc Hội Lưỡng Viện”
(Điều 94, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
Quốc Hội Lưỡng Viện bỏ phiếu tín
nhiệm Chính Phủ, sau khi được thành
lập và Chính Phủ đến tŕnh diện trước
Quốc Hội.
Quốc Hội tín nhiệm Chính Phủ, nói đúng
hơn là tín nhiệm đường lối chính
trị Quốc Gia mà Chính Quyền đă chuyển
đến Quốc Hội trước đó để
duyệt xét,
- sau khi đă bàn cải và chấp thuận về
dự án ngân quỷ,
- các phương tiện tài chánh có được
nhờ quy chế thuế vụ,
- phương thức phân chia phương tiện tài
chánh cho nhiều lănh vực khác nhau, tùy theo thứ
tự ưu tiên và thời điểm nhằm
thực hiện để đạt được
mục đích,
- các chương tŕnh kinh tế và phương
thức tổ chức.
Sau khi duyệt xét và bàn cải về những ǵ
được đề cập, Quốc Hội có
thể bỏ phiếu tín nhiệm Chính Phủ và
từ đó Chính Quyền được bắt
đầu chính danh hành xử quyền lực
Quốc Gia, để thực hiện chương tŕnh
chính trị.:
- “ Trong mười ngày, sau khi được thành
lập, Chính Quyền phải đến tŕnh
diện trước Quốc Hội để
được Quốc Hội tín nhiệm ” (Điều
94, đoạn 3, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Trong ṿng 10 ngày, sau ngày Chính Quyền tuyên hứa
trung thành với Hiến Pháp trước mặt
Tổng Thống, Vị Nguyên Thủ Quốc Gia,
Thủ Tướng Chính Phủ đến tường
tŕnh lên Quốc Hội Lưỡng Viện chương
tŕnh hành động của Chính Phủ ḿnh.
Kế đến Quốc Hội bắt đầu bàn
thảo về những ǵ Chính Phủ đệ tŕnh
và sau đó, thành phần đa số trong Quốc
Hội, yêu cầu Quốc Hội bỏ phiếu tín
nhiệm.
Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm phải nêu
rỏ lư do tại sao Quốc Hội tín nhiệm và
cuộc bỏ phiếu được bỏ
phiếu công khai, bằng cách nêu danh vị dân
biểu nào bỏ phiếu thuận hay chống.
Phương thức hành xử vừa kể cho
thấy không phải Hiến Pháp đặt Chính
Quyền như là một cơ chế nô lệ
phục tùng Quốc Hội,
“ phải đến tŕnh diện trước
Quốc Hội để được Quốc
Hội tín nhiệm”,
cho bằng là một thể thức nói lên Chính
Quyền và Quốc Hội cùng đồng quan điểm
về đường lối chính trị phải
thực hiện cho Quốc Gia.
Hay nói đúng hơn đường lối xử
dụng quyền lực Quốc Gia của giới
đương quyền, Chính Phủ, và nhu cầu và
ước vọng của giới dân chúng bị
trị, được phát biểu qua cơ quan dân
cử Quốc Hội, đều được phát
biểu đồng thuận với nhau, yếu
tố tiên khởi và căn bản của thể
chế Dân Chủ.
Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm, là đồng
thuận đường lối lănh đạo
Quốc Gia hay chính hướng của Chính Quyền.
Bỏ phiếu nêu rỏ lư do để Quốc
Hội bày ṭ sự đồng thuận của ḿnh
về chương tŕnh chính trị mà Chính Quyền
đưa ra và có ư định thực hiện cho
đất nước.
Đồng thời, đồng thuận tín nhiệm
Chính Quyền, Quốc Hội cũng bắt buộc
Chính Quyền phải thực hiện những ǵ
đă hứa trong chương tŕnh.
Bỏ phiếu công khai với danh tánh để cho
xứ sở biết được định hướng
chính trị của mỗi dân biểu cũng như
của các chính đảng mà mỗi dân biểu là
thành viên trong Quốc Hội.
Và mỗi dân biểu cũng như chính đảng
đồng thuận hay phản đối sẽ
chịu trách nhiệm của ḿnh trước
quốc dân ( Cuocolo, Programma di governo, indirizzo politico,
mozione motivata di fiducia, in Dir. e Soc., 638).
Để hội đủ điều kiện tín
nhiệm Chính Quyền, Hiến Pháp không bắt
buộc Quốc Hội phải đạt được
đa số chuẩn định ( majorité qualifiée :
2/3; 3/4 chẳng hạn), mà chỉ cần đa
số trên tỷ số các thành viên hiện diện
(đa số tương đối), khác với
điều kiện bắt buộc đa số
tuyệt đối của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà
Liên Bang Đức (Điều 63, đoạn 2):
- “ Quyết định tín nhiệm của mỗi
Viện Quốc Hội sẽ không có giá trị,
nếu không đại diện được cho
đa số các thành viên, hay nếu không áp dụng
đa số các thành viên hiện diện, trừ khi
Hiến Pháp đinh liệu một đa số đặc
biệt nào khác” (Điều 64, đoạn 3
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Điều đó cắt nghĩa tại sao có
thể có được một Chính Quyền
thiểu số được tín nhiệm (hay Chính
Quyền không được đa số định
sẳn ủng hộ).
Đó là trường hợp Chính Quyền được
dựa trên hậu thuẩn các dân biểu của các
chính đảng từ bên ngoài, hoặc được
sự hỗ trợ của một vài nhóm dân
biểu không trực tiếp tham gia vào Chính Quyền.
Trường hợp vừa kể có thể xảy
ra khi các chính đảng trung lập hoặc cả
đối lập với Chính Quyền đứng ra
ủng hộ một vài chương tŕnh cá biệt
nào đó.
Tuy nhiên đó là những trường hợp
bất thường.
Điều 94 đoạn 3 chúng ta vừa đọc
không hẳn chỉ bắt buộc Chính Quyền
phải được tín nhiệm lúc khởi đầu
hoạt động hành quyền của ḿnh, cho
bằng đ̣i buộc Chính Quyền phải có
một lực lượng đa số luôn luôn
ủng hộ.
Như vậy Chính Quyền với hậu thuẩn
của thiểu số trong Quốc Hội là Chính
Quyền chỉ có thể quan niệm được
trong một vài trường hợp cá biệt, đối
với một vài vấn đề khẩn cấp nào
đó, mà trong t́nh trạng nhất thời không t́m
được sự đồng thuận của
đa số.
Một Chính Quyền như vậy cần phải có
được sự đồng thuận của
đa số càng sớm càng tốt, do sự thoả
thuận của các lực lượng chính trị
trong Quốc Hội, nếu không, phương
thức duy nhứt là giải tán Quốc Hội trước
định kỳ, để cho cử tri đoàn
quyết định tuyển chọn một lực lượng
chính trị cân bằng mới cho đất nước.
II - Luật pháp và đường lối chính tri
Quốc Gia
Luật pháp có liên quan đến chính hướng
Quốc Gia là những đạo luật, qua đó
Quốc Hội trực tiếp tham dự vào việc
đinh hưóng đường lối chính trị
Quốc Gia.
Trên thực tế hầu hết các đạo
luật của Quốc Hội đều có tính cách
định hướng hay chuẩn định
lại chính hướng Quốc Gia:
- luật quốc hữu hoá, sau đi đă bồi
thường tương xứng, các cơ xưởng
liên quan đến các ngành phục vụ công ích
thiết yếu,
- các đạo luật về an ninh công cộng,
- các đạo luật về quyền đ́nh công,
ảnh hưởng đến tự do cá nhân,
quyền lương bổng được thù lao tương
xứng với lượng số và phẩm chất
của việc làm, tăng giảm lợi tức và
ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế,
- các đạo luật điều hành mối tương
quan giữa tổ chức Quốc Gia trung ương
và Cộng Đồng Địa Phương, Vùng,
Tỉnh, Quận, Làng Xă…
Tuy nhiên một số đạo luật của
Quốc Hội liên hệ đến việc Quốc
Hội tham dự trực tiếp và cấp thời vào
việc thiết định các mục đích
cần đạt được theo thứ tự
ưu tiên và các phương tiện cần thiết
để thực hiện:
- các đạo luật tiền liệu ngân sách
hằng năm,
- các đạo luật về tài chánh,
- các đạo luật thiết định chương
tŕnh kinh tế,
- các đạo luật chấp thuận các thỏa
ước quốc tế,
- các đạo luật về ân xá phạm nhân … (
Barettoni Arlieri, Miti e realtà nei principi di contabilità pubblica,
Giuffré, Milano 1986, 54).
1- Chúng ta thử duyệt xét những đạo
luật có tính cách kinh tế, để xem mối tương
quan giữa vai tṛ “chuẩn y hay bát bỏ ”
luật pháp, nhiệm vụ chính yếu của
Quốc Hội, và việc Quốc Hội tham gia vào
đường lối chính trị Quốc Gia.
a) các đạo luật tiền liệu ngân sách
hằng năm.
Đó là những đạo luật thiết định
phân chia phương tiện tài chánh cho nhiều ngành
quản trị của Chính Quyền, dân sự cũng
như quân sự, tùy theo mục đích nhằm
đạt được.
b) các đạo luật về tài chánh.
Nhằm sửa đổi hay bổ túc mỗi năm
các phương thế có ảnh hưỏng đế
công quỷ Quốc Gia và đến ngân quỷ các cơ
xưởng công hay hổn hợp công tư trong các
ngành phục vụ thiết yếu cho cuộc
sống Quốc Gia.
Điều 81, đoạn 1 Hiến Pháp tuyên bố:
“ Lưỡng Viện Quốc Hội hằng năm
chuẩn y ngân sách và cán cân chi thu được Chính
Quyền tŕnh bày”.
Với việc sửa đổi, bổ túc và
chuẩn y ngân sách tiền liệu hằng năm
vừa kể, Quốc Hội bắt buộc Chính
Quyền phải hành xử quyền lực của ḿnh
trong giới mức và lănh vực được
chấp thuận, cũng như với hiệu năng
được tiền liệu.
Các đạo luật tiền liệu ngân sách và các
đạo luật về tài chánh là những đạo
luật được đưa ra nhằm xác định
rỏ rệt , từ các chương tŕnh tổng quát
và trừu tượng của Chính Quyền, các
mục đích xă hội thiết thực, làm định
điểm và phối hợp các hoạt động
kinh tế tư cũng như công, quy chiếu để
đạt đưọc mục đích, như
Hiến Pháp chỉ định:
- “ Luật pháp xác định các chương tŕnh
và các biện pháp kiểm soát thích ứng để
hoạt động kinh tế công cũng như tư
được quy hướng và phối hợp cho các
mục đích xă hội ” (Điều 41, đoạn
3 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
c) Các đạo luật chuẩn y các chương
tŕnh kinh tế.
Các chương tŕnh kinh tế là những dụng
cụ để định hướng và phối
hợp các hoạt động kinh tế công cnũg
như tư nhằm mục đích xă hội:
- “ Sáng kiến kinh tế tư nhân là quyền
tự do. Không ai có thể hoạt động kinh
tế đi ngược lại lợi ích xă hội
hay làm thiệt hại đến an ninh, tự do và
phẩm giá con người. Luật pháp thiết
định các chương tŕnh và kiểm soát thích
ứng để hoạt dộng kinh tế công cũng
như tư được định hướng và
phối hợp nhằm lợi ích xă hội” (Điều
41, đoạn 1, 2 và 3, id.).
Nhưng thiết định chương tŕnh kinh
tế là ǵ, đối với một Quốc Gia kinh
tế tự do được đoạn 1, điều
41 xác định?
Điều ai cũng có thể xác nhận trước
tiên khi đọc đoạn 1 của điều 41
đang bàn là chắc chắn các chương tŕnh
kinh tế trong đường hướng chính
trị Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ,
được Chính Quyền đưa ra và Quốc
Hội chuẩn y tín nhiệm sau khi Chính Phủ
được thành lập, sẽ không thể nào là
các chương tŕnh kinh tế của các nước
kinh tế chỉ huy và hợp tác xă của Cộng
Sản, trong đó mọi phương tiện
sản xuất đều do tổ chức Quốc
Gia hay đảng Cộng Sản độc quyền
trưng dụng.
Cách hành xử đần độn vừa kể,
con người không có lợi thú để kích thích
sáng kiến và nỗ lực chuyên cần, tiêu
diệt sáng kiến hay “ Số Vốn Nhân Thức”
( Human Capital), đă đưa Liên Bang Sô Viết và các
nước Cộng Sản Đông Âu đến phá
sản, mạc rệp và lạc hậu ai cũng
biết.
Trong một Quốc Gia kinh tế tự do, như chúng
ta vừa đọc ở điều 41, đoạn
1, thiết định chương tŕnh kinh tế
chỉ có ư nghĩa là định hướng và
phối hợp các hoạt động kinh tế công
cũng như tư nhân , nhằm đạt
được mục đích xă hội (Điều
41, đoạn 3, id.).
Thiết dịnh chương tŕnh kinh tế có nghĩa
là
- thiết định các luật lệ chắc
chắn về thị trường,
- tránh tập trung độc quyền, làm tê liệt
các nguyên tắc tự do kinh tế và tự do
cạnh tranh.
- tạo ra mức quân b́nh bằng luật lệ
giữa những ǵ bảo chứng cho hoạt động
kinh tế tư nhân và định chế hoá các
hoạt dộng kinh tế công ( D’Alberti, Considerazioni
intorno all’art 41 della Costituzione, in AA.VV., La Costituzione
economica. Propspettive di riforma dell’ordinamento economico, Giuffré,
Milano 1985, 141s).
Dù sao đi nữa, trong một Quốc Gia kinh tế
tự do, thiết định chương tŕnh kinh
tế
- không phải là hậu quả của những đạo
luật áp đặt lên đầu lên cổ,
từ trên phán xuống,
- mà là đồ án được bàn cải
với sự tham dự và đồng thuận
của các chủ thể có liên hệ trong tiến
tŕnh phát triển kinh tế: chương tŕnh kinh
tế dân chủ.
Chương tŕnh kinh tế là kết quả của
sự tham gia rộng răi các lực lượng kinh
tế, chính trị, xă hội và cộng đồng
địa phương, vùng, tỉnh, quận, xă
ấp để xác định mục đích
cần đạt được.
Các Cộng Đồng Địa Phương, Vùng,
Tỉnh, Quận…có thể tham gia vào việc
thực hiện chương tŕnh, bằng cách
thiết lập các văn pḥng tương tợ như
trung ương và trong một vài lằn mức nào
đó, cũng có thể thực hiện các chương
tŕnh trong những lănh vực cá biệt mà ḿnh có
khả năng và điều kiện hơn, canh nông,
du lịch, thiết kế đô thị… chẳng
hạn.
Và sau nhiều cuộc hội thảo, hỏi ư
kiến và bàn cải đó, chính Quốc Hội là
cơ quan sau cùng sẽ đúc kết và thiết
định thứ tự ưu tiên trước sau
của các mục đích cần thực hiện (
Marino, Aspetti giuridici della programmazione: programmazione e mete
sociali, in Dir. e Soc., 1990, 21s).
2 – Các đạo luật liên quan đến
việc đồng thuận hiệu lực hóa các
thoả ước quốc tế
cũng là những đạo luật hướng
dẫn chính hướng Quốc Gia của Quốc
Hội trong đường lối chính trị đối
ngoại.
Các thoả ước thường th́ được
bắt đầu bằng các cuộc thương
thuyết của cơ quan ngoại giao với
Quốc Gia hay tổ chức quốc tế.
Kế đến thoả ước được
cả hai bên đồng thuận kư kết.
Sau đó được hiệu lực hoá ( hay
được Quốc Hội đồng thuận
chuẩn y) và được Tổng Thống, Vị
Nguyên Thủ Quốc Gia ấn kư và trao đổi
với cơ quan liên hệ ngoại quốc, hoặc
được chuyển giao cho một Quốc Gia
thứ ba, được đặc trách ǵn giữ.
Các thoả ước chỉ có hiệu lực khi
được các Quốc Gia liên hệ đồng
thuận chấp nhận (ratifié).
Các thoả ước
- có tính cách chính trị,
- có tiền liệu cơ quan trọng tài hay các
điều khoản luật pháp,
- thay đổi lằn ranh lănh thổ,
- liên quan đến đến gánh nặng tài chánh
phải trang trải hoặc sửa đổi
luật pháp Quốc Gia để thích ứng và áp
dụng cả ơ nội địa, cần
phải được Quốc Hội cho phép (
Lippolis, La Costituzione italiana e la formazione dei trattati
interanzionali, Rimini 1989, 41s).
- “Quốc Hội Lưỡng Viện cho phép sự
đồng thuận chấp nhận các thoả ước
quốc tế bằng luật pháp, nếu các
thoả ước đó mang tính cách chính trị,
hay tiền liệu cơ quan trọng tài hoặc
định chế luật pháp, hoặc có liên
hệ đến việc thay đổi đất
đai, các gánh nặng tài chánh phải trang trải
hay sửa đổi luật pháp” (Điều 80,
id.).
Trước những vấn đề quốc tế
quan trọng như vậy, Hiến Pháp xác định
Quốc Hội phải cộng tác với Chính
Quyền để định hướng và
quyết dịnh những ǵ phải thực hiện.
Hiến Pháp giao cho Quốc Hội, cơ chế dân
cử, là tiếng nói đại diện cho dân,
mới có quyền quyết định tối
hậu đưa đến việc cho phép thi hành và
tạo hiệu lực bắt buộc phải tuân
theo ở nội địa.
3 – Các đạo luật ân xá hay giảm án.
- “Ân xá ( amnistia) và giảm án ( indulto) được
ban cho bằng đạo luật được 2 / 3
số phiếu thành viên của mỗi Viện
Quốc Hội chấp thuận, đối với
mỗi điều khoản của đạo
luật và với cuộc bỏ phiếu chung kết”
(Điều 79, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
Với điều khoản luật hiến pháp
vừa kể, Quốc Hội có toàn quyền tùy theo
nhu cầu chính trị của đất nước
ban ân xá hay giảm án đối với những
loại tội trạng nào Quốc Hội thấy
cần có thái độ khoan hồng, để điều
hành cuộc sống của đất nước.
Với điều kiện gia trọng với đa
số 2/3 vừa kể, Hiến Pháp đ̣i buộc
phải hội đủ điều kiện để
có thể chuẩn y từng điều khoản cũng
như cuộc bỏ phiếu chung kết, cho thấy
Hiến Pháp muốn tạo lằn mức để
ngăn chận những việc ban ân xá hay giảm
án thường xăy ra, mà không có lư do chính đáng.
4 – Các đạo luật về tuyên bố
chiến tranh.
- “Quốc Hội Lưỡng Viện tuyên bố t́nh
trạng chiến tranh và giao cho Chính Quyền các
quyền lực cần thiết ” (Điều 78,
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
- “Tổng Thống là vị Lănh Đạo Quân
Đội, chủ toạ Hội Đồng Quốc
Pḥng Tối Cao được thiết lập theo
luật định, tuyên bố t́nh trạng
chiến tranh đă được Quốc Hội xác
nhận” (Điều 87, id.).
Như vậy Hiến Pháp quy trách cho Quốc Hội,
cơ quan dân cử trực tiếp đại
diện cho ư muốn của dân chúng, có quyền
quyết định t́nh trạng chiến tranh,
một biến cố quan trọng như vậy đối
với cuộc sống Quốc Gia.
Điều vừa kể cho thấy vai tṛ quan
trọng của Quốc Hội trong việc định
hướng đường lối chính trị
Quốc Gia.
Trong Đại Nghị Chế, cơ quan quyết
định hoà hay chiến không phải là Chính
Quyền, mà chính Quốc Hội, cơ quan dân cử
trực tiếp và trực tiếp đại
diện cho dân chúng, có quyết định liên quan
đến đời sống của dân chúng.
Tuy nhiên như chúng ta biết Ư Quốc là một
Quốc Gia loại trừ chiến tranh như là
dụng cụ làm tổn thương đến
tự do của các dân tộc khác, cũng như là
dụng cụ để giải quyết các vấn
đề tranh chấp quốc tế:
- “Quốc Gia Ư khước từ chiến tranh như
là dụng cụ làm tổ thương đến
tự do của các dân tộc khác, và như phương
tiện để giải quyết các mối tranh
chấp quốc tế; trong điều kiện b́nh
đẳng với các Quốc Gia, Ư Quốc đồng
thuận chấp nhận các giới hạn cần
thiết quyền tối thượng của ḿnh
để tạo nên một định chế
bảo đảm hoà b́nh và công chính giữa các
Quốc Gia, khuyến khích và dành mọi đặc
quyền cho các tổ chức nhằm mục đích
vừa kể ” (Điều 11, Hiến Pháp 1947 Ư
Quốc).
Điều đó cho thấy chiến tranh chỉ
được cho phép là loại chiến tranh tự
vệ và là một sự lựa chọn bất
đắc dĩ.
Hiến Pháp ủy thác cho Quốc Hội khả năng
giao cho Chính Quyền các quyền lực cần
thiết để đối phó với chiến
tranh, chớ không phải Chính Quyền tự ư hành
xử quyền lực nào và bao nhiêu tùy hỷ.
Bởi lẽ trong khi hành xử quyền lực đối
phó với chiến tranh, chắc chắn Chính
Quyền có thể giới hạn một số
quyền căn bản của con người, giá
trị tối thượng và bất khả nhượng
( tự do di chuyển, tự do cư trú trên mọi
phần đất của Quốc Gia, tự do và bí
mật thư tín…)được Hiến Pháp tuyên
bố trong suốt 13 điều khoản đầu
tiên và khai triển thêm cho đến điều 54,
trước khi đề cập đến thể
thức tổ chức các cơ chế.
Một lần nữa cho thấy vai tṛ lănh đạo
của Quốc Hội trong Đại Nghị Chế,
đối với đường lối chính
trị Quốc Gia.
III - Định hướng, kiểm soát và thông
tin.
1) Tiến tŕnh định hướng.
Mối tương giao tín nhiệm giữa Quốc
Hội và Chính Quyền là mối tương giao
sống động,
- một đàng v́ chương tŕnh chính trị căn
bản dựa vào đó Chính Quyền nhận
được sự tín nhiệm của Quốc
Hội luôn luôn phải được xác tính
rỏ ràng, bổ túc và thay đổi,
- đàng khác hoạt động định hướng
đường lối chính trị của Quốc
Hội, đường hướng chính trị mà Hành
Pháp có bổn phận phải thực hiện,
phải luôn luôn được Quốc Hội
kiểm soát.
Do dó ngoài những đạo luật để luôn
luôn cập nhật, chuẩn định và hướng
dẫn chính hướng đối với Hành Pháp,
Quốc Hội c̣n có những động tác đi sát
thực tế để hướng dẫn chính hướng:
kiến nghị và quyết định.
a) Kiến nghị:
là động tác được một chủ
tịch của một nhóm dân biểu hay ít nhứt
là một nhóm 10 dân biểu, hoặc 8 thượng
nghị sĩ yêu cầu Quốc Hội đưa ra
văn thư về một vấn đề nào đó
đối với hoạt động của Chính
Quyền, mà các ông cho là cần được làm sáng
tỏ (Điều 110 Nội Quy Hạ Viện Ư và
điều 157 Nội Quy Thượng Viện.
b) Quyết định :
là động tác của một ủy ban đặc
trách liên hệ đệ tŕnh lên Hạ Viện
tỏ ư định hướng hay xác định
đường lối phải theo đối với
những vấn đề đặc biệt nào
đó.
Quyết định cũng có thể được
bỏ phiếu trong nội bộ ủy ban, theo
lời đề nghị của một thành viên,
đối với những vấn đề không
cần phải báo cáo với Quốc Hội.
Trong phần bàn cải, có thể đại diện
của Chính Quyền được mời tham
dự, để biết được ư kiến
của Quốc Hội hay Ủy Ban liên hệ của
Quốc Hội.
Tính cách hữu hiệu của các quyết định
cần được đặt vào mối tương
quan tín nhiệm giữa Quốc Hội và Chính
Quyền.
Nói cách khác, sau khi quyết định được
đệ tŕnh, Chính Quyền phải có phương
cách hành xử thoả đáng theo nội dung của
quyết định, nếu không muốn gặp
phải vấn đề với Quốc Hội sau
nầy-
Nếu Chính Quyền không thực thi đường
lối chỉ định của Quốc Hội, Chính
Quyền vấp phải việc thiếu tuân hành
đ̣i buộc của Hiến Pháp, buộc Chính
Quyền phải hoạt động thích ứng trong
mối tương giao tin nhiệm giữa Quốc
Hội và Chính Quyền.
Từ đó Quốc Hội có thể rút ra hậu
quả để đi đến kết luận, quy
trách cho Chính Quyền và có thể đưa đến
hậu quả bất tín nhiệm.
2) Kiểm soát và thông tin.
Trong Đại Nghị Chế, Chính Quyền luôn luôn
bị đặt dưới sự kiểm soát
của Quốc Hội đối với các hoạt
động chính trị và quản trị của ḿnh,
bởi v́ trao cho Chính Quyền sự tín nhiệm
của ḿnh lúc ban đầu, Quốc Hội bắt
buộc Chính Quyền phải hành xử, chăm lo
thực hiện chính đường lối chính
trị đă được thoả thuận ( Patrono,
Informazione e informativa in Parlamento, in AA.VV., L’informazione
parlamentare, Cedam, Padova 1983, 59s).
Như vậy Quốc Hội phải được
đặt ở vị thế có thể biết
được rơ ràng ngay đến cả chi
tiếc về các hành động của Chính
Quyền và các cơ quan thuộc hệ, để có
thể phán đoán xem Chính Quyền có đang
thực thi đường hướng chính trị
Quốc Gia đă được đồng thuận
với Quốc Hội, và cũng là đồng
thuận với nhu cầu và ước muốn
của dân chúng hay không.
Như vậy thông tin và kiểm soát là hai động
tác gắn liền chặc chẻ nhau, bởi v́
để có thể phán đoán hoạt động
của Chính Quyền, Quốc Hội cần phải
biết được ( thông tin) Chính Quyền đang
làm ǵ, làm đến đâu và làm bằng cách nào (
Amato, L’ispezione politica del Parlamento, Giuffré, Milano 1968,2s).
Các phương thế để Quốc Hội có
thể được thông tin và có thể kiểm
soát Chính Quyền gồm: đặt câu hỏi,
chất vấn, điều tra.
a) Đặt câu hỏi :
Chỉ là những câu hỏi, có thể do một
nghị viên đặt ra bằng thư viết
gởi đến Chính Quyền hay đến một
Bộ Trưởng, để biết
- sự việc thực hư,
- Chính Quyền có biết được tin tức mà
nghị viên nghe nói đến không,
- có thật Chính Quyền đang có ư định
chuyển đến Quốc Hội các tài liệu
hay tin tức mà ḿnh nhận được chăng,
- Chính Quyền đang có ư định đáp
ứng thích hợp cho vấn đề được
đặt ra hay không.
Và câu trả lời của Chính Quyền, có thể:
- trả lời cho Hạ Viện, theo lời yêu
cầu của nghị viên,
- trả lời cho Thượng Viện, theo chỉ
thị của Chủ Tịch Thượng Viện,
đă thoả thuận với nghị viên đưa
ra câu hỏi,
- trả lời cho ủy ban liên hệ với
vấn đề,
- trả lời bằng thư từ hoặc thân hành
đến tường tŕnh, theo lời yêu cầu
của nghị viên.
Chính Quyền cũng có thể tuyên bố rằng ḿnh
không thể trả lời hoặc xin dời ngày
trả lời lại vào một ngày nào khác
được xác định.
b) Chất vấn :
Là câu hỏi được viết ra gởi đến
Chính Quyền hay đến một Bộ Trưởng
về lư do hay ư định hành xử của Chính
Quyền liên quan đến vấn đề
thuộc những khía cạnh của đường
lối chính trị Quốc Gia.
Câu chất vấn được đặt ra có
tầm quan trọng và liên hệ trực tiếp hơn
về hoạt động thực hiện đường
lối chính trị.
Và như vậy, nếu nghị viên hay nhóm nghị
viên đặt ra các câu chất vấn tuyên bố
không thoả măn về các câu trả lời của
chính quyền, cuộc chất vấn có thể
biến thành kiến nghị và lôi cuống cả
Quốc Hội bàn cải và bỏ phiếu về cách
hành xử của Chính Quyền ( Pace, Il potere di
inchiesta delle Assemblee legislative, Giuffré, Milano 1973).
c)Điều tra :
Cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện
đều có quyền mở cuộc điều tra
về cách thi hành đường lối chính
trị Quốc Gia đă được đồng
thuận trước Quốc Hội, khi Chính
Quyền mới được thành lập và đến
xin Qưốc Hội tín nhiệm, hoặc đường
lối chính trị hằng năm, được
Quốc Hội chuẩn y qua các đạo luật
về ngân sách, tài chánh, thiết định chương
tŕnh kinh tế, được đề cập
ở trên:
- “ Mỗi Viện Quốc Hội có quyền mở
cuộc điều tra về những vấn đề
liên quan đến lợi ích chung”.
- “Để thực hiện các cuộc điều
tra, Quốc Hội chọn giữa các thành viên ḿnh
một ủy ban điều tra thế nào thể
hiện được tỷ lệ của các nhóm
nghị sĩ khác nhau. Ủy ban điều tra
tiến hành các cuộc điều tra và cứu xét,
có quyền hạn và bị giới hạn như cơ
quan tư pháp ” (Điều 82, đoạn 1 và 2
Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Các Viện Quốc Hội cũng có thể tuyên
bố kết quả của cuộc điều tra
bằng một đạo luật hay bằng một
nghị định chung .
Và như vậy đối với những vấn
đề phúc tạp hay có tính cách chính trị,
cả hai Viện Quốc Hội cũng có thể thành
lập một Ủy Ban Điểu Tra Lưỡng
Viện.
IV - Nghị quyết bất tín nhiệm:
Các Viện Quốc Hội có thể tuyên bố
chấm dứt mối tương quan giữa
Quốc Hội và Chính Quyền, với việc
chấp nhận nghị quyết bất tín nhiệm
đối với Hành Pháp.
Do việc chấp thuận nghị quyết bất tín
nhiệm vừa kể, chỉ cần một Viện
Quốc Hội cũng đủ, Chính Quyền
phải đệ tŕnh đơn từ chức lên
Tổng Thống và như vậy mở ra giai đoạn
Chính Phủ bị khủng hoảng, theo tinh thần
điều 94, đoạn 1, chúng ta đă có dịp
đọc ở trên:
- “ Chính Quyền phải được sự tín
nhiệm của hai Viện Quốc Hội ” (Điều
94, đoạn 1, id.).
Việc mối tương quan tín nhiệm giữa
Quốc Hội và Chính Quyền bị mất đi là
v́ thành phần đa số trong Quốc Hội
ủng hộ Chính Quyền đă thay đổi ( ví
dụ một vài chính đảng không c̣n ủng
hộ nữa), hay v́ mối bất đồng
giữa thành phần đa số và Chính Quyền
đă đến lúc không thể hàn gắn
được nữa.
Điều 94 đặt điều kiện là
nghị quyết bất tín nhiệm của Quốc
Hội đối với Chính Quyền phải có lư
do và cuộc bỏ phiếu để đi đến
nghị quyết phải được bỏ
phiếu bằng cách điểm danh:
- “ Mỗi Viện Quốc Hội đồng
thuận chấp nhận hay từ chối tín
nhiệm bằng một nghị quyết có lư
chứng và được bỏ phiếu bằng
thể thức điểm danh” (Điều 94, đoạn
2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).
Ngoài ra dự thảo để đưa đến
nghị quyết bất tín nhiệm phải
được ít nhứt 1/10 thành viên Hạ
Viện kư tên và không thể được đem
ra bàn cải trước 3 ngày, kể từ ngày
dự thảo được tŕnh lên Quốc
Hội.
Hành xử như vậy, Hiến Pháp có ư tránh
việc bỏ phiếu bất ngờ và vấn đề
chưa được đa số thành viên Quốc
Hội suy nghĩ chính chắn:
- “ Dự thảo nghị quyết bất tín
nhiệm phải được ít nhứt 1 /10 thành
viên Hạ Viện kư tên và không thể đem ra bàn
cải trước ba ngày, kể từ ngày đệ
tŕnh ” (Điều 94, đoạn 5, id.).
C̣n nữa nghị quyết bất tín nhiệm Chính
Quyền phải liên quan đến cả đường
lối thực hiện chính trị của Chính
Quyền chớ không chỉ liên hệ đến
một chương tŕnh hay dự án nào đó:
- “ Phiếu bất đồng của một hay
cả hai Viện Quốc Hội về một đề
nghị nào đó của Chính Quyền, không bắt
buộc Chính Quyền phải từ chức” (Điều
94, đoạn 4, id.).
Phiếu bất tín nhiệm của Quốc Hội cũng
có thể được phát biểu đối
với một Bộ Trưởng, nếu Quốc
Hội cho là vị Bộ Trưởng đó
chịu trách nhiệm.
Trong trường hợp bị mất tín nhiệm
đối với Quốc Hội, trong Đại
Nghị Chế, Chính Quyền phải từ chức,
hay cất chức vị Bộ Trưởng có trách
nhiệm như trường hợp vừa đề
cập.
Nếu Chính Quyền không chịu từ chức,
Tổng Thống có nhiệm vụ thu hồi chức
vụ Chính Quyền để lập thiết
lại tính cách hợp hiến theo tinh thần
của điều 94, đoạn 1 đang bàn.
Vấn đề tín nhiệm hay bất tín nhiệm
của Quốc Hội đối với Chính
Quyền là dụng cụ hữu hiệu để vượt
thắng được thành phần thiểu số
cố chấp cản trở trong Quốc Hội và
để có được những quyết định
kịp thời để định hướng và
sửa chữa và bổ túc đường lối
chính trị Quốc Gia ( Traversa, Il Parlamento nella
Costituzione e nella prassi, Giuffré, Milano 1989, 382).
Trong Đại Nghị Chế, Quốc Hội là cơ
quan dân cử, tiếng nói của dân chúng cho
biết cách quản trị Quốc Gia của Chính
Quyền có đang đáp ứng lại nhu cầu và
ước vọng của con người và của
cuộc sống Quốc Gia hay không.
Quốc Hội đồng thuận hay bất tín
nhiệm Chính Quyền, không phải v́ Chính Quyền
cai trị theo đường lối của Đảng
hay không ( hay Đảng trị ), mà là có đang
đáp ứng lại nhu cầu và ước
vọng của dân chúng hay không.
|