Tản Mạn Về Thuyết Tiến Hóa
Mai Thanh Truyết
Chúng ta hiện đang sống trên một hành tinh đă có
chiều dài lịch sử hàng triệu năm. Từ ngàn
năm trước và cũng có thể là ngàn năm sau…đă
có những hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên, chúng
ta khộng thể nào giải thích được.
Những sự kiện không giải thích được
đó, có một số người không chấp nhận.
Nhưng đối với một số người khác,
họ cho đó là một thích thú, một h́nh thức kích
thích con người động năo để lư giải
một hiện tượng, hay một sự kiện không
b́nh thường nào đó đă xảy ra.
Có nhiều câu hỏi cho những hiện tượng
đă xảy ra, nhiều khi không thể dựa vào
những chứng tích khoa học để lư giải.Thí
dụ như các khái niệm về tính không (nothing) và
sự vô cùng tận (infinity) đều nằm ngoài
tầm của mọi suy nghĩ dựa theo luận lư và tính
hợp lư trong suy nghĩ nhị nguyên. Thêm một thí
dụ khác về niềm tin của một nhóm người,
một dân tộc đều dựa theo những tập
tục được truyền đạt từ tổ tiên
xa vời vợi…cho đến ngày nay. Nếu những
niềm tin ấy c̣n tồn tại th́ con người ngày
hôm nay khó có thể lư giải theo mức suy nghĩ
với logic thông thường. Người nầy sẽ
tin hoàn toàn và người khác sẽ phản bác lại.
Mỗi người đều có suy nghĩ riêng về
niềm tin nầy và hầu như không ai có thể
thuyết phục được ai cả.
V́ vậy thuyết tạo dựng (creation) và thuyết
tiến hóa hay biến cải (evolution) muôn đới
vẫn là hai đối kháng cho mọi cuộc tranh
luận, dù dưới h́nh thức tôn giáo hay ngoài xă
hội. Một số nhà khoa học dựa vào thuyết
Big Bang để nhận định về thuyết
tiến hóa nhu sau: Đây là một lư thuyết có tính khoa
học có thể chấp nhận được để
lư giải nguồn gốc của mọi vật thể
(species) trên trái đất”. Và họ cho rằng
thuyết tạo dựng không có căn bản khoa học.
Đến đây, chúng ta dừng lại vấn đề
biện luận hay phản biện về hai quan điểm
đối nghịch trên đây v́ không nằm trong chủ
đích của bài viết. Mục tiêu của bài nầy
chỉ mong nêu lên vài suy nghĩ về khía cạnh khoa
học và sinh vật học để chia xẻ một
số quan niệm căn bản về thuyết tiến hóa
mà thôi.
Dĩ nhiên, trong cùng một danh từ có thể có
nhiều nghĩa khác nhau và cung cách suy diễn cũng c̣n tùy
theo trường hợp, hoàn cảnh và thời điểm
xử dụng danh từ đó. Thí dụ, danh từ
“bridge” cũng có nhiều nghĩa tùy theo người
xử dụng như đang chơi bài, trong văn pḥng nha
sĩ, hay ngoài công trường xây dựng. Do đó, danh
từ evolution cũng không là một ngoại lệ. Đứng
về phương diện khoa học và sinh vật học,
thuyết tiến hóa được hiểu như là
sự thay h́nh đổi dạng đời sống sinh
vật (biological lifeforms).
Từ định nghĩa trên, chúng ta phân biệt ra
được 6 nhận thức có thể suy diễn
về quan niệm tiến hóa theo thứ tự thời gian
kể từ thời tạo thiên lập địa. Đó
là:
- Quan niệm về vũ trụ tiến hóa (cosmic evolution):
Cho đến bây giờ hoàn toàn chưa có một luận
cứ khoa học nào chứng minh được có sự
sống của sinh vật trước khi có hiện tượng
Big Bang. Do đó, có thể kết luận là quan niệm
về vũ trụ tiến hóa không dự phần vào
sự thay h́nh đổi dạng đời sống sinh
vật.
- Quan niệm về hóa học tiến hóa (chemical evolution):
Trong gia đoạn đầu của thuyết Big Bang, khinh
khí hay hydrogen là hóa chất đầu tiên hiện diện
trên địa cầu. Dưới sức nóng hàng
triệu độ của địa cầu thời
bấy giờ, và dưới áp suất thật cao, các
nguyên tố hydrogen kết hợp lại lần lần, và
cuối cùng chúng ta có một chuỗi nguyên tố trong
bảng phân loại tuần hoàn hiện tại. Dĩ nhiên
là trong điều kiện vật chất như ở giai
đoạn nầy, không thể nào có sự hiện
diện của đời sống sinh vật được.
- Quan niệm về tiến hóa hành tinh (planetary evolution):
Hiện tại cũng chưa có ǵ chứng minh được
là ở có sự sống trên các hành tinh. Khoa học
hiện đại chỉ mới vừa đưa ra
giả thuyết là có “vết tích” oxy va nước trên
một vài hành tinh. Như ng đó chỉ là những
giả thuyết dựa theo các phóng ảnh vệ tinh ghi
nhận được mà thôi.
- Quan niện về tiến hóa hữu cơ (organic
evolution): Các khảo sát về sự hiện diện
của đời sống có tên là abiogenesis. Dĩ nhiên là
đời sống sinh vật phải có trước khi chúng
ta có thể nói về các cơ chế tạo ra sự thay
h́nh đổi dạng trong đời sống sinh vật.
Từ khái niệm trên, “nguồn gốc của sự
sống” và “sự sống thay đổi như thế
nào” là hai lănh vực hoàn toàn khác nhau trong nghiên cứu.
Do đó, khi nói đến tiến hóa hữu cơ th́ e cũng
không chỉnh, v́ chúng ta chỉ khám phá ra sự sống
sau đó mà thôi, c̣n sự sống trước đó (trước
khi được khám phá) đă tự hiện hữu
rồi. Từ suy luận trên danh từ abiogenesis để
chỉ sự khảo sát về đời sống nguyên
thủy cũng khó thích hợp được với hoàn
cảnh lúc đó.
- Quan niệm về tiến hóa xă hội (social evolution):
Theo quan niệm nầy, xă hội có những bước
tiến thay đổi tự nhiên tùy thuộc vào từng
khu vực hay từng vùng con người sinh sống.
Từ đó, chúng ta nhận định rơ nhất yếu
tố xă hội ảnh hưởng lên mức phát
triển, đôi khi khôngtheo chiều thuận với văn
minh ban đầu. Như vùng Trung Đông, Á Châu đă có
những nền văn minh cực thịnh so với Aâu Châu
trong thời cổ đại. Nhưng hiện ạti xă
hội ở hai nơi nầy không được phát
triển và thăng hoa tiếp tục, mà lại bị
thụt hậu so với Aân Châu. Trường hợp
Bbắc Mỹ cũng là một trường hợp
rất đặc thù có phát triển nhảy vọt
chỉ trong ṿng vài trăm năm sau ngày lập quốc.
- Quan niệm về tiến hóa vĩ mô và vi mô (macro &
micro-evolution): Các nhà khoa học không thể chấp
nhận danh từ “loài” (kinds) như là một chủng
loại cho đời sống. Đây là quan niệm
của những nhà tin vào lư thuyết tạo dựng. Làm
sao chúng ta có thể định nghĩa được hay
giải thích được “loài” hiện tại là ǵ
và như thế nào? Loài có phải là sự biến đổi
giữa cây cỏ và thú vật trong đó có con người
sơ khai trong sự thay h́nh đổi dạng không? Sau cùng,
ngay chính quan niệm giữa vĩ mô và vi mô cũng không có
chỗ đứng v́ vĩ mô cũng chỉ là một
tập hợp của nhiều vi mô mà thôi. Tuy nhiên dưới
nhản quan của các nhà sinh vật học, hiện tượng
tiến hóa vi mô là một số cơ chế đă
được sắp xếp sẳn và ảnh hưởng
lên sự thay đổi đời sống của con người.Trong
lúc đó, sự tiến hoá vĩ mô có cơ chế
ảnh hưởng lên một nhóm người, hay một
dân tộc để rồi từ đó, mới thành h́nh
khái niệm về dân tộc và quốc gia.
Tóm lại, trong 6 quan niện về tiến hóa trên đây,
chúng ta có thể nhận thức bằng lư luận và khoa
học là sự tiến hóa và sự thay h́nh đổi
dạng đời sống con người đến
từ sự tiến hóâ hữu cơ, và sự tiến hóa
vĩ mô hay vi mô chỉ là một hệ luận từ
sự tiến hóa hữu cơ và các giai đọan
tiếp theo sau.
Từ nhận thức trên đinh nghĩa về sự
tiến hóa của con người có thể được
diễn dịch như sự thay đổi trong các thể
dạng (types) như người Aâu Châu, Á Châu, cũng như
tỷ lệ với những nét chánh đặc biệt
của nhóm người sống trong hoàn cảnh môi trường
khác nhau như người Trung Hoa, người Việt Nam.
Thuyết về sự tiến hóa có chọn lựa như
trên dường như có căn bản vững chắc và
có tính khoa học hơn tất cả các loại
thuyết tiến hóa khác và đại diện của
thuyết nầy chính là Darwin suy diễn từ thế
kỷ 19.
Tổng hợp lại, từ những tản mạn trên
đây, chúng ta rút ra được những ǵ? Cũng như
thuyết tiến hoá hay biến cải được suy
diễn như thế nào qua thuyết dân tộc sinh
tồn của nhà cách mạng Trương Tử Anh
được soi sáng và bổ túc bởi thuyết
biến cải của cố GS Nguyễn Ngọc Huy?
Qua thời gian, từ buổi sơ khai của loài người
cho đến giai đoạn phát triển văn minh khoa
học cực thịnh như hiện tại, con người
đă lần lần thích nghi với môi trường
sống, sự đổi thay của khoa học (tiến
bộ) và có thể nói phúc lợi mà con người có
được ngày hôm nay là do sự tích lũy của
tất cả trí tuệ con người qua thời gian.
Từ suy nghĩ đó, chúng ta nhận thức rằng các
chủ thuyết từ dân tộc sinhtồn dến
biến cải hay thyết tiến hóa chỉ là những
danh xưng trong từng gia đoạn của chiều dài
lịch sử loài người. Tất cả đă
thể hiện qua những suy nghĩ, hành xử, và
thụ hưởng phúc lợi của xả hội qua
từng giai đoạn mà thôi.
Đứng về mặt chính trị, nhất là qua cung cách
suy diễn và lư giải dưới nhản quan của
một đăng viên của một đăng chính trị, có
thể có những khác biệt về luận lư, khác
biệt qua sự diễn dịch về đường
lối, chính sách của đăng. Nhưng rốt ráo
lại, đó chỉ là những khác biệt có tính cách h́nh
thức, mà cốt lơi của vấn đề vẫn là
sự thích ứng của con người và xă hội
ứng hợp với trào lưu thời đại trước
tiến tŕnh toàn cầu hóa. Con người dù dưới
chính thể hay chủ nghĩa nào cũng phải thích nghi
và ứng hợp với sự tiến hóa chung của nhân
loại trong thời điểm hiện tại.
Đó mới là ư nghĩa thật sự của sự sinh
tồn chính đáng.
Giai đoạn hiện tại nầy không cho phép chúng ta
trở về những lư thuyết trừu tượng
nữa, mà phải thực sự trực diện trước
một thực tế ngay trước mắt.
Quản lư và điều hànnh đăng ngày hôm nay phải là
cung cách quản lư và điều hành một xí nghiệp,
trong đó thành phẩm sản xuất không là những
sản phẩm vật chất cho người tiêu dùng, mà
là những thành phẩm trí tuệ, những chính sách phát
triển làm tăng thêm phúc lợi và nâng cao dân trí và
đời sống người dân, cũng như sự
tạo dựng một xă hội có được
những quyền tự do căn bản cho con người
dù bất cứ ở đâu.
Ngày hôm nay, t́nh trạng tôn thờ lănh tụ không c̣n có
chỗ đứng nữa, bởi lẽ lănh đạo
đăng phải là một tập hợp trí tuệ để
hoạch định đường lối và phối
hợp nổ lực thúc đẩy thực hiện
đường lối nầy.
Suy nghĩ được như thế tính đăng lần
lần sẽ mở hơn, thoáng hơn, và người dân
b́nh thường sẽ không c̣n nh́n đăng và đăng viên
trong sự dè dặt, e ngại như trước kia
nữa. V́ đăng cũng chỉ là một bộ phận
của xă hội, chu toàn một nhiệm vụ đă
được phân công như tất cả mọi thành viên
trong xă hội để cùng nhau góp phần vào sự phát
triển và tiến bộ chung của đất nứơc.
Nghĩ được như thế đăng mới hội
tụ đủ điều kiện tích cực ḥa
nhập vào dân và dân sẽ sẳn sàng hưởng
ứng, yểm trợ chủ trương đường
lối của đăng, đồng thời tích cực ḥa
nahp vào đăng để phục vụ dân tộc và Đất
Nước.
Mai Thanh Truyết
Orange 30/4/2007