THAM QUÂN BẤT NHƯ HÔN QUÂN
Hà nội phản ứng thế nào trước “sóng gió Hoàng Sa và Trường Sa” ?


Nguyễn Văn Trần
Phan Văn Song
Hồ Minh Châu


I.- VỀ CHỦ QUYỀN.


Từ thế kỷ 17, năm 1686, chúa Nguyễn Đàng Trong đă tổ chức một Hải Đội Hoàng Sa để thường xuyên tuần tiểu đảo Băi Cát Vàng, tức Hoàng Sa, và triều đ́nh nhà Nguyễn cũng đă vẽ bản đồ vùng đảo này để xác định vùng lănh thổ của Việt Nam.

Sau khi thực dân Pháp đặt xong nền cai trị ở Việt Nam, năm 1885, nhà cầm quyền Pháp kư kết với nhà Măn Thanh Hiệp Ước Thiên Tân, phân định biên giới bằng cột mốc. Hai năm sau, Pháp kư tiếp Hiệp Ước Brévié, phân ranh lănh hải vùng vịnh Bắc Việt.

Từ đó, mọi tranh chấp vùng biển được LHQ giải quyết theo công ước về luật biển.

Đến thời Đệ I và Đệ II Việt Nam Cộng Ḥa, Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc lănh thổ của Việt Nam Cộng Ḥa.

Như vậy, từ thế kỷ 17, Hoàng Sa và Trường Sa liên tục thuộc chủ quyền và lănh thổ Việt Nam.

Về mặt pháp lư, những chánh quyền Việt Nam, và trước đó, chánh quyền thuộc địa ở Việt Nam, luân phiên nhau hiện diện thường trực, với những tấm bia minh xác chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa này. Ngược lại, Bắc kinh chỉ lên tiếng đ̣i chủ quyền chớ không có bằng cớ về sự có mặt trên hai đảo này.

Hôm 06 – 12 – 2007, chánh quyền Bắc kinh thêm lần nữa, ngang nhiên phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa, bao gồm Hoàng Sa với Trường Sa, là đơn vị hành chánh cấp Huyện trực thuộc Tỉnh Hải nam. Trước đây, năm 1988, Bắc kinh đă từng ban hành nghị quyết cho đảo Hải nam trở thành Tỉnh, lănh thổ bao gồm luôn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước hành động ngang ngược và trịch thượng này của Bắc kinh, đảng cộng sản Việt Nam cũng như Nhà nước Việt Nam ở Hà nội dám có thái độ thích nghi không ? 
Nếu có, th́ phản ứng như thế nào ?


II.- KHI BẮC KINH TRỊCH THƯỢNG XÁC ĐỊNH CHỦ QUYỀN.-


Hôm 09 – 12 – 2007, trước phản ứng tự phát, đồng loạt và quyết liệt của nhơn dân Việt Nam, khởi đầu với giới thanh niên, sanh viên, chống lại hành động bá quyền của Bắc kinh xâm chiếm lănh thổ Việt Nam, th́ nhà cầm quyền Trung hoa thêm lần nữa, lên tiếng xác định “chủ quyền không thể tranh căi của Trung quốc đối với các quần đảo và vùng biển lân cận ở khu vực biển Nam Trung hoa”. Bắc kinh c̣n ra lệnh cho Hà nội phải có “biện pháp hiệu quả, ngăn chận những sự việc (tức các cuộc biểu t́nh của nhơn dân Việt Nam) làm tổn hại đến quan hệ song phương ”.

Sở dĩ Bắc kinh ngang nhiên và trịch thượng xác định chủ quyền trên Hoàng Sa - Trường Sa, và cả vùng lănh hải, bởi Hà nội đă chánh thức thừa nhận chủ quyền của họ. Năm 1958, Bắc kinh vẽ bản đồ mới, tự qui định lănh hải là 12 hải lư, thay v́ 3 hải lư như trước đây, th́ Chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng ḥa Hồ Chí Minh chấp thuận. Tiếp theo, Thủ tướng của Việt Nam Dân Chủ Công ḥa Phạm văn Đồng cũng gởi công hàm xác nhận chủ quyền của Bắc kinh về lănh hải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa .

Ngoài ra, trước đó, ông Ung văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao của Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng ḥa cũng thừa nhận chủ quyền của Tàu, và ông Hoàng Tùng, Trưởng Ban tư tưởng TW của đảng Cộng sản Việt Nam cũng đă tuyên bố: “Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc, cùng phe xă hội chủ nghĩa anh em c̣n hơn để tụi Ngụy Sài G̣n quản lư ” !

Năm 1988, Trường Sa bất ngờ bị Tàu tấn công, chiếm giữ một vài đảo. Báo Sài G̣n Giải Phóng viết : “Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc chủ quyền Trung quốc không có nghĩa là chủ quyền về lănh thổ của ta bị mất, mà chỉ tạm thời do Trung quốc cùng phe xă hội chủ nghĩa anh em quản lư. Một ngày nào đó, chúng ta cần lấy lại, Trung quốc sẽ hoàn trả cho ta ” !

Từ thời Hồ Chí Minh, khi tự nguyện thừa nhận chủ quyền của Tàu trên lănh thổ và lănh hải, đến cuối thế kỷ qua, Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Hà nội, lén lút và độc đoán nhượng đất và biển cho Tàu. Đảng Cộng sản và Nhà nước Hà nội không hề ư thức về sự mất c̣n gia sản của tổ tiên , gầy dựng bằng máu, bằng xương, để lại cho các thế hệ sau ! 

Trong nếp suy nghĩ của người cộng sản khi Tổ Quốc Việt Nam là “tổ quốc xă hội chủ nghĩa”, th́ Việt Nam có bị một nước xă hội chủ nghĩa khác đô hộ, đó không ǵ khác hơn là sự thay đổi người cầm quyền mà thôi ”.

Theo bản đồ mới của Bắc kinh về lănh hải, th́ Đà Nẵng không c̣n biển. Nên năm 2000, Giang Trạch Dân đến Hội An tắm biển, nằm phơi bụng phệ, không cần cận vệ, để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng chủ quyền của Bắc kinh được bảo đảm an ninh tuyệt đối.

Xưa nay, trong lịch sử, mất nước do quân giặc hùng mạnh xảy ra rất ít, mà mất nước v́ ḷng người không muốn giữ nước lại rất thường.

Nhưng mất nước v́ ḷng người không muốn hoặc không biết giữ nước, c̣n có cơ hội lấy lại nước, khi mọi người phản tỉnh về ư thức trách nhiệm, cảm thấy dân tộc bị ô nhục, sự nghiệp xương máu của tổ tiên bị tiêu tan, …chớ mất nước “v́ phe xă hội chủ nghĩa anh em” th́ không phải mất ở lănh thổ bị chiếm đoạt, mà mất ở tâm hồn không c̣n Việt Nam, con tim không c̣n luân lưu ḍng máu kiêu hùng của tiên tổ nữa . 

Đất nước Việt nam đối với người cộng sản Hà nội chỉ là nơi họ sanh sống tạm, như người ở trọ, trong thời gian họ cầm quyền, để mai này, khi rời khỏi chánh quyền, họ sẽ về theo “cụ Mác cụ Lê”, như Hồ Chí Minh, nơi đó mới là tổ quốc thật sự của họ.


III.- HÀ NỘI DÁM PHẢN ỨNG VÀ CÓ THỂ PHẢN ỨNG KHÔNG ?


Vấn đề tiên khởi là Hà nội có dám phản ứng để bảo vệ đất nưóc đă mất vào tay ngoại bang không ?


- Không dám phản ứng v́ Bắc kinh mạnh ? 
Không đúng. Năm 1979, Hà nội đă dám phản ứng bằng vơ lực khi Đặng Tiểu B́nh dạy cho Hà nội một bài học. Và tôn sư đă bị môn sinh đánh nặng đ̣n.

Trước đó, Hà nội đă từng mở chiến dịch rầm rộ chống bá quyền phương Bắc, không cần giữ quan hệ truyền thống “môi liền môi, răng liền răng”.

Sở dĩ Hà nội dám phản ứng v́ ỷ có chỗ dựa là người anh em xă hội chủ nghĩa vĩ đại Liên-xô. Nhưng phản ứng này chỉ có tính cách nhằm xác định lập trường phe cánh.


-Ngày nay, nếu phản ứng với Bắc kinh, Hà nội sẽ có được sự yểm trợ quan trọng và hùng hậu hơn trước rất nhiều, đó là quan hệ quốc tế, hậu thuẫn của toàn dân trong nước và người Việt hải ngọai. 

Từ năm 1995, Hà nội đă lần lượt tranh thủ cho ḿnh một vị trí mạnh trong cộng đồng thế giới. Trong vừa qua, Hà nội là Hội viên không thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ. Với vị thế ngày nay, nhà cầm quyền Hà nội có thể công khai lớn tiếng phản kháng Bắc kinh để bảo vệ chủ quyền và lănh thổ Việt nam. Đó là chánh nghĩa quốc gia và lẽ phải pháp lư quốc tế. Hà nội không có lư do ǵ khiếp sợ sức mạnh của Tàu.

Thế mà Hà nội không làm, lại c̣n t́m cách can thiệp để ngăn chận phong trào dân chúng biểu t́nh chống Bắc kinh. Phải chăng v́ bị áp lực của 16 chữ vàng đè nặng đến ngóc đầu lên không nổi ? Hay là chống Bắc kinh đồng nghĩa với sự đánh mất thế lực yểm trợ, và do đó, vị thế cũng như quyền lực sẽ mất về phe cánh khác, tuy cũng cùng đồng chí trong đảng cộng sản với nhau ?.

Sự kiện Bắc kinh thể hiện chính sách xâm lược ngày nay tuy là một bất hạnh cho đất nước, một sỉ nhục của hồn thiêng sông núi, sự tức tưởi của bao nhiêu kẻ sĩ vị quốc vong thân, nhưng, đây lại là một cơ hội tốt cho Hà nội, nếu những người cầm quyền ở Hà nội biết nắm bắt, thực hiện thật sự toàn dân đoàn kết, trên cơ sở cùng chung ḷng bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam lâm nguy, th́ không cần nghị quyết 36 hay bất kỳ một thứ nghị quyết nào khác.

Công an chỉ lo nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự xă hội, không đàn áp biểu t́nh ôn ḥa và chánh đáng. Báo chí có đầy đủ đệ tứ quyền để thông tin trung thực về chủ quyền quốc gia bị Tàu vi phạm, để vận động ḷng yêu nước và sức mạnh toàn dân làm hậu thuẫn cho chánh quyền. Nhà cầm quyền Hà nội cần thay đổi thứ bậc ưu tiên trong chánh sách đối ngoại để cân bằng quan hệ giữa Việt Nam và thế giới. Quân đội hăy trở về đúng vị trí bảo vệ tổ quốc, anh dũng chống ngoại xâm.

Ḷng yêu nước sẵn có của người dân Việt Nam chỉ sôi động, khi nào người dân thấy rơ họ thực sự là thành viên chủ động của cộng đồng dân tộc, với đầy đủ trách nhiêm và quyền lợi.

Để bắt đầu, những người lănh đạo ở Hà nội ngay bây giờ, hăy suy nghĩ với cái đầu Việt Nam, hăy nh́n đất nước bằng con tim Việt Nam, tức tách rời hẳn cái chủ nghĩa xă hội thảm hại kia, và hăy mạnh dạn thật ḷng cùng với toàn dân trong và ngoài nước, chung nhau thảo luận t́m một phương sách bảo vệ bờ cơi, phục hồi lănh thổ và lănh hải .

Chúng ta đừng quên rằng Bắc kinh không bao giờ từ bỏ mộng bá quyền tiến xuống phía nam, khi nội t́nh của họ ổn định .Trên vị thế ngày nay, Hà nội, sau khi giải quyết nạn xâm lăng của Bắc kinh, nên quan hệ thêm chặt chẽ với các nước Nam Thái B́nh Dương, trong ASEAN, và đặc biệt với Úc và Tân Tây Lan, để kêu gọi cùng nhau thành lập một tổ chức mở rộng, có khả năng quân sự cao, đủ sức mạnh tự bảo vệ an ninh vùng Đông Nam Á, theo mô h́nh Hiệp ước Liên Pḥng Đông Nam Á trước kia (SEATO).

Sự kiện Bắc kinh ngày nay xâm lấn xuống phía Nam, chắc chắn sẽ là động cơ thúc đẩy các quốc gia trong vùng, luôn cả Huê kỳ và Âu châu hợp tác, yểm trợ vai tṛ pḥng thủ an ninh chung cho địa phương trọng yếu này.

Trước sức mạnh và ư chí liên đới v́ an ninh chung của toàn vùng, Bắc kinh sẽ phải chấp nhận sống hài ḥa, tôn trọng chủ quyền quốc gia lẫn nhau, để cùng phát triển giao thương.

Trong thời Hà nội đưa chiến tranh vào Miền Nam, Hồ Chí Minh hạ quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn” để tiến chiếm Miền Nam, hay “nếu phải đốt hết cả dăy Trường Sơn để giải phóng Miền Nam, ta sẵn sàng làm” chỉ v́ Hồ Chí Minh muốn chiếm lấy Miền Nam về tay phe xă hội chủ nghĩa. Chủ trương làm chiến tranh giải phóng của Hồ Chí Minh không bộc lộ ḷng yêu nước nên sự hy sinh của nhân dân hoàn toàn vô nghĩa. Họ chết oan uổn cho tham vọng của Hồ Chí Minh phục vụ phe xă hội chủ nghĩa. 
Ngày nay, nếu đảng Cộng sản và Nhà nước Hà nội không chống lại Bắc kinh để đ̣i lại lănh thổ và lănh hải, th́ người cộng sản trước sau, không phải là người yêu nước .


Người xưa nói “Tham quân bất như hôn quân” ! Đảng cộng sản là một hệ thống tham nhũng siêu việt, vượt qua các tệ nạn tham nhũng ở Việt nam từ trước đến giờ.

Nhưng nếu tham nhũng mà biết giữ ǵn đất nước để ăn lâu dài, th́ vẫn c̣n khá hơn thứ tham nhũng mà không biết giữ nước, đem bán nước để ăn được nhiều và nhanh một lần.

Đó là thứ Vua vừa tham vừa ngu. Đó cũng là thực tế Việt Nam ngày nay.


Viêt Nam Hải ngoại, những ngày cuối Đông 2007 
Nguyễn Phan Châu* 

*Để tưởng niệm anh Nguyễn Phan Châu, một chiến sĩ quốc gia đă bị chánh quyền Ngô Đ́nh Diệm
bỏ vào bao bố,liệng xuống sông Nhà Bè đầu năm 1963 .