Vấn đề phân định ranh giới Việt Hoa
Giáo Sư Nguyễn Văn Canh
(VNN) Ngày 25 tháng 12, năm 2000, Chủ Tịch nước
của Cộng Sản Việt nam, Trần đức Lương,
sang Trung cộng trên danh nghĩa là viếng thăm
thiện chí, nhưng thực ra là để kư Hiệp
Ước phân định ranh giới Vịnh Bắc
Việt. Một năm trước đó, vào tháng 12, 1999,
Việt cộng và Trung Cộng đă kư Hiệp ước
về lănh thổ trên đất liền. Và Hiệp ước
này đă được Quốc Hội Việt cộng phê
chuẩn vào tháng 6, 2000. C̣n ranh giới trên Biển Đông,
chưa thấy có dấu hiệu được hai bên
giải quyết. Ta lần lượt duyệt qua việc
phân định ranh giới trên đất liền, trong
vịnh Bắc Việt.
I. Ranh Giới Trên Đất Liền.
1. Mục tiêu và Thỏa Hiệp về căn bản pháp lư giải quyết tranh chấp.
Đỗ Mười, Tổng Bí Thư Đảng Cộng
Sản Việt nam và Vơ văn Kiệt, Thủ Tướng
Việt cộng vào 5 tháng 11, 1991 sang Bắc Kinh để
thiết lập bang giao giữa hai nuớc đă kư 3
hiệp uớc. Trong số này có một hiệp ước
tạm thời liên quan đến biên giới. Tạm
thời v́ mới chỉ đặt căn bản chỉ hướng
cho hai bên áp dụng những biện pháp cần thiết
để duy tŕ ḥa b́nh và yên tĩnh dọc theo biên
giới. Hai bên lúc đó chỉ đề cập đến
những vấn đề an ninh, buôn lậu, trật
tự xă hội, di chuyển qua biên giới. Họ mong
muốn rằng biên giới Việt Hoa trở thành một
biên giới ḥa b́nh và hữu nghị.
C̣n việc phân định biên giới sẽ được
thực hiện sau bằng phương pháp thương
thuyết.
Ngoài ra, ngay từ thời kỳ sau 1954, Đảng Lao Động
Việt nam và Đảng Cộng sảnTrung Hoa trong những văn
thư trao đổi giữa 2 bên, nhất là vào những
năm 1957-1958 đă đồng ư rằng ranh giới
Việt Hoa do các thỏa ước Pháp-Hoa phải
được tôn trọng, và rằng t́nh trạng nguyên
vị về ranh giới phải được triệt
để duy tŕ trong khi chờ đợi việc dàn
xếp giữa hai chính phủ.
Được biết vào những năm sau khi Pháp chiếm
Việt nam, Pháp đă kư nhiều hiệp ước
với Trung Hoa có liên quan đến biên giới từ 1885
đến 1895.
Các Hiệp ước ngày 25 tháng 4, 1886 kư ở Tien-Tsin
trong điều khoản 5; Hiệp định 26 tháng 6,
1887 và công ước 26 tháng 6, 1895 trong các điều
khoản I đến III bổ túc cho hiệp định 26
tháng 6,87 ấy, cả 2 đều được kư ở
Bắc kinh ấn định rơ vị trí địa lư các
Mốc đánh dấu chủ quyền, dựa vào các
cứ điểm thiên nhiên hay nhân tạo cố định.
Về sau, có khoảng 300 Mốc đánh dấu ranh
giới giữa 2 quốc gia được đặt
tại các địa điểm ấy.
2. T́nh trạng ranh giới trên đất liền trước và sau cuộc chiến tranh 17 ngày của Trung Cộng và Việt cộng?
Vào tháng 2 năm 1979, Trung Cộng dàn khoảng 350.000 quân
dọc biên giới Việt-Hoa, và đưa 220.000 quân
tiến sang đánh phá 6 tỉnh Việt nam dọc biên
giới. Mục đích của cuộc điều quân này
là để dạy Việt nam một bài học như Đặng
tiểu B́nh đả công bố v́ Việt nam mamg quân
đang đánh Khmer đỏ, một Đảng Cộng
sản mà Trung Cộng đỡ đầu. Quân của
Trung cộng tiến sâu vào nội địa Việt nam, có
nơi tới 40 cây số, chiếm đóng 23 thị
trấn thuộc các tỉnh biên giới là Quảng Ninh,
Lạng sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, và Lai Châu. Trung
cộng tuyến bố rằng đă dạy xong cho
Cộng Sản Việt nam một bài học và họ cho rút
quân tất cả quân đội về bên kia biên giới
vào ngày 16 tháng 3, sau 17 ngày xâm lăng. Tuy nhiên, quân Trung
Cộng vẫn c̣n chiếm đóng tại các ngọn
đồi và các địa điểm chiến lược,
với các dàn radar và các đài quan sát mà lính biên pḥng
Trung Cộng gọi là "thuộc phần đất
của Việt nam".
Sau trận chiến đó, đồn quan thuế của
Việt cộng được thiết lập khoảng
480 thuớc về phía Nam Hữu Nghị Quan, nếu so
với vị trí cũ trước năm 1979. Dù đă
thiết lập bang giao, nhưng Trung cộng vẫn liên
tục lấn chiêm đất. Tháng 5, 1992, một cuộc
chạm súng đă xẩy ra tại quốc lộ số 1
ở Lạng sơn, gần Hữu Nghị Quan. Lư do
của cuộc chạm súng là lực lượng quân
sự Trung cộng ngang nhiên di chuyển cột đánh
dấu biên giới vào sâu trong nội địa Việt
nam khoảng 400 thước. Đến tháng 7, 1992, Trung
cộng chiếm 36 nơi, và tổng số đất
bị lọt vào tay Trung Cộng là 8.000 hectares dọc theo
biên giới. Sau đó, lại có những loạt biến
cố khác: lính biên pḥng Trung cộng trục xuất nông
dân Việt nam ra khỏi vùng tranh chấp và đốt nhà
họ như tại Cao Bằng, Lạng Sơn. Có nơi,
quân Trung cộng đưa nông dân của họ sang
lập nghiệp.
Cho đến ngày kư Hiệp ước phân định
ranh giới trên đất liền vào tháng 12, 1999, hai bên
chỉ loan báo rằng họ đă giải quyết
được 70 địa điểm tranh chấp
nằm dọc theo biên giới giữa hai nước, dài
độ 1,300 cây số. Quốc dân Việt không
được cung cấp đầy đủ tin tức
hay chi tiết liên quan đến các t́nh trạng và vị
trí 70 địa điểm bị chiếm đóng đó,
và những phần đất Trung cộng đă chiếm
có trả lại cho Việt nam không?
Đó là chưa kể đến những đất đai mà
Trung Cộng đă chiếm trước đây, như vào
hồi 1954, khi Trung cộng đưa công nhân sang xây giúp
Việt cộng đường hỏa xa Hà nội -
Hữu Nghị Quan, các công nhân ấy đă "lầm
lẫn" di chuyển mốc đánh dấu chủ
quyền vào nội địa Việt nam 300 thước,
như Việt cộng đă nêu ra. Trung cộng phản kháng,
tuyên bố rằng vị trí ấy đúng là giao điểm
đánh dấu biên giới.
Vấn đề ấy cũng đă không được
giải quyết giữa hai bên nhất là trong thời gian
mối bang giao giữa hai đảng anh em rất thấm
thiết và đầm ấm suốt 2 thập niên từ
1954 đến 1975.
II. Phân định ranh giới Vịnh Bắc Việt.
Thông cáo chung giữa Chủ tịch nước Trần đức Lương và Giang trạch Dân nhân dịp kư hiệp ước ấn định ranh giới vùng Vịnh vào 25 tháng 12, 2000 nói: "Hai hiệp ước (trên đất liền và vịnh Bắc Việt) giúp tạo các điều kiện tiên quyết làm cho các ranh giới trên đất liền và trong vùng vịnh thành biên giới ḥa b́nh, hữu nghị và ổn cố trường cửu". Nhờ đó "gia tăng tín cậy và hiểu biết hỗ tương, phát triển mỗi quốc gia dễ dăi hơn và đóng góp vào sự nghiệp ḥa b́nh, hợp tác và phát triển trong vùng và thế giới".
III. Nhận xét
Nội dung của các cuộc thương thuyết về phân định lănh thổ không được phổ biến. Người ta không biết rơ là phần đất nào bị mất, phần đất nào đă thu hồi được, ngoại trừ các viên chức nắm giữ quyền hành trong Đảng. Dân tôc Việt nam có quyền đ̣i hỏi Đảng Cộng Sản Việt nam phải công bố rơ điều này.
Do đó, Trí Thức Việt Nam Hải Ngoại vào ngày 22 tháng 7 năm 1994, sau đó là Ủy Ban Bảo Vệ Lănh Thổ trong các Tuyên Cáo vào ngày 29 tháng 4 năm 1995 và ngày 18 tháng 12 năm 2000 lên tiếng về vấn đề ấy.
G. S. Nguyễn Văn Canh