Việt Nam Phát Triển Kinh Tế Xă Hội 
- Nh́n Về Giáo Dục và Y Tế 


Tiến Sĩ Nguyễn Văn Trần

Đến đầu thập niên 80, tổ chức và quản lư đất nước theo mô h́nh Xă Hội 
Chủ Nghĩa lấy chuyên chính chỉ đạo đă hoàn toàn thất bại, đưa Việt Nam đến bờ vực thẩm. Năm 1986, đảng cộng sản Hà Nội đă phải chọn lựa sự thay đổi cách tổ chức và quản lư xă hội khác hơn, gọi là chánh sách "đổi mới".
Chánh sách đổi mới đă ít nhiều tôn trọng quyền làm ăn của người dân nên nâng cao sự sản xuất xă hộị Nhờ đó, kinh tế đă hồi phục và tăng trưởng đều ở mức 8,4% năm từ 1990 - 1997. Tỷ lệ nghèo khó giảm. Điều tra mức sống năm 1992 - 1993 cho thấy có 51% dân nghèo và có đến 90% dân nghèo sống ở nông thôn. Qua năm 1997 - 1998, tỷ lệ nghèo từ 51% giảm xuống 37%. (1)
Theo chỉ số phát triển của Liên Hiệp Quốc là nhằm phát triển con người (human development index) th́ vào năm 2000, với những thành tựu của chánh sách đổi mới, nhờ thay đổi cơ cấu và thể chế quản lư kinh tế xă hội , Việt Nam được xếp vào hạng 108 trong số 174 quốc gia dựa theo mức phát triển. (2)
Ngày nay, tăng trưởng chậm lại và nạn thất nghiệp gia tăng, cho thấy các yếu kém cơ bản của chánh sách kinh tế xă hội Việt Nam do đổi mới trong thực tế chưa đúng múc. Đảng cộng sản Hà Nội vẫn c̣n do dự trong việc muốn cho phép khu vực tư đóng góp vào tiến tŕnh phát triển kinh tế xă hộị Phe bảo thủ trong đảng hăy c̣n tin vào đường lối lănh đạo là Nhà nước phải nắm được quyền về các dịch vụ xă hị Năm 1986, khi ban hành chánh sách "đổi mới", đảng cộng sản đề cao "chiến lược con người".
Hiến pháp 7992 ghi "giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu". Qua Đại Hội lX, đảng cộng sản ở Việt Nam hô hào tiếp tục đẩy mạnh đổi mới kinh tế, phát triển văn hóa, giáo dục và xây dựng con ngườị (3)
Sau hơn 50 năm cầm quyền lănh đạo toàn diện đất nước, giáo dục và y tế ở Việt Nam ngày nay ra sao ?

I- Giáo dục ở việt nam ngày naỵ

Qua Đại Hội lX , chánh quyền Việt Nam đưa ra chỉ tiêu tăng truởng b́nh quân 7 - 7, 5% mỗi năm trong 10 năm (2001 - 2010). Đây là một tham vọng có thể thực hiện được nếu chánh quyền Việt Nam can đảm tiến hành thật sự những đổi mới quan trọng về chánh trị mà đưa tầm nh́n cho một chánh sách phát triển trong dài hạn. Muốn như vậy, chánh quyền Việt Nam phải quan tâm thực hiện giáo dục và đào tạo ở đúng tầm quan trọng là "quốc sách hàng đầu".
Bài viết, trong phần I, sẽ đề cập đến vai tṛ của giáo dục - đào tạo trong sự phát triển kinh tế, kiểm điểm t́nh h́nh giáo dục - đào tạo hiện tại và sẽ đề nghị một vài sửa đổi cụ thể và trong phần II, sẽ nói về y tế.

1.- Liên hệ giữa giáo dục - đào tạo và phát triển kinh tế.- 
Nguồn vốn căn bản để phát triển kinh tế của một quốc gia là nhân lực và thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên chỉ được khai thác để đem lại sự giàu có cho quốc gia khi nguồn nhân lực được đào tạo và tích lũy đúng mức, mà kiến thức là yếu tố quyết định mức phát triển. Do đó mà ngày nay có danh từ mới trong kinh tế là kinh tế tri thức, hay kỹ nghệ dùng nhiều kiến thức.
- 2 -

Vốn nhân lực do giáo dục - đào tạo mà có. Trong kinh tế, giáo dục - đào tạo hôm nay là để đưa vào lao động sản xuất cho ngày maị V́ thế, chi phí quốc gia dành cho giáo dục - đào tạo là sự đầu tư xây dựng vốn nhân lư.c. Thông thường, người có học sẽ có năng xuất cao hơn người học ít khi cùng làm viê.c. 
Trong kinh tế, nhứt là kinh tế thị trường, sự khác biệt về năng xuất lao động giữa hai người có hai tŕnh độ giáo dục - đào tạo hơn/ kém là sự chênh lệch về mức thu nhập của họ.
Giáo dục - đào tạo ở cấp cao sẽ đóng góp vào những phát minh mới trong nhiều địa hạt khoa học, trở thành những động cơ chánh phát triển kinh tế xă hi ở nhiều nước ngày nay, như làm ra nhiều sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao, sáng tạo những phương pháp tổ chức và quản trị có lợi tối ưụ Nhờ giáo dục - đào tạo mà những tiến bộ mới mẻ này làm tăng phúc lợi xă hộivà đất nước nhờ đó mà trở nên giàu mạnh, văn minh.
Ở các nước đang phát triển, giáo dục - đào tạo đem lại cho người dân sự hiểu biết khoa học chính xác, cần thiết để nhận định hướng đi đúng cho nền kinh tế quốc giạ
Giáo dục và đào tạo không chỉ đem lại cho quốc gia nguốn vốn nhân lực nhất thời mà điều quan trọng là đem lại cho quốc gia sự hiểu biết; đây mới là nguồn vốn quí lâu dài không bị giới hạn trong áp du.ng.
Đối với Việt Nam, giáo dục - đào tạo sẽ đem lại cho Việt Nam nguồn vốn nhân lực giúp phát triển kinh tế trong dài hạn, có khả năng đưa sản phẩm Việt Nam vào thị trường nhiều cạnh tranh. Hơn nữa, giáo dục - đào tạo không chỉ nhằm đào tạo nguồn vốn nhân lực mà c̣n là cứu cánh của phát triển, nên Liên Hiệp Quốc mới đưa ra quan niệm về phát triển của một quốc gia là tuổi thọ, kiến thức, mức hưởng thụ những phúc lợi xă hộii do sự tăng trưởng kinh tế phân phốị Trong trường hợp Việt Nam, giáo dục c̣n cần thiết đem lại cho dân chúng hiểu biết thiết thực về tổ chức đời sống gia đ́nh, bảo vệ môi sinh, quyền lợi và bổn phận đối với Nhà nước, ... tất cả đều nhằm đóng góp vào sự phát triển đất nước bền vững.

2.- Hiện t́nh giáo dục - đào tạo ở việt nam.- 

Hệ thống giáo dục Việt Nam gồm trên 14.000 trường Tiểu học và Trung học cấp I, 1.100 trường Trung học cấp II và 94 Đại học, trong số này có 11 Đại học dân lâ.p. (4)
Hệ thống giáo dục Việt Nam được chánh quyền tổ chức và chỉ huy chặt chẽ. Ở trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra chánh sách, trực tiếp quản lư cấp Đại học và Cao đẳng. Trung học và Tiểu học do cơ quan giáo dục địa phương (Thành phố, Tỉnh, Huyện, Xă) quản lư, thi hành chương tŕnh giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Cho tới năm 1979, ở Việt Nam có hai hệ thống giáo dục phổ thông: hệ 10 năm áp dụng ở miền Bắc và hệ 12 năm áp dụng ở miền Nam. Học sinh học xong 10/12 năm, thi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Trong chương tŕnh, các môn vật lư, hóa học, ngoại ngữ, sinh vật được hạn chế tối đạ Học sinh có học các môn này nhưng không có thị Riêng về môn sinh ngữ, mỗi tuần có 3 giờ, nhưng trường nào không có giáo sư th́ được bỏ luôn. (B chấp thuận) (5).
Ở bậc đại học, chương tŕnh được chia ra làm 2 giai đoạn: giai đoạn I tạo cho sinh viên kiến thức tổng quát để nâng tŕnh độ sinh viên thường quá kém do việc học ở Trung học thiếu nghiêm túc. Giai đọan II đi vào chuyên môn nhưng rất sơ lươ.c. 

Theo chương trŕnh do Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành năm 1993, trong số 90 đơn vị học tŕnh của hai năm đầu đại học, sinh viên các nghành khoa học tự nhiên và kỹ thuật phải học 23 đơn vị về "khoa học xă hi và nhân văn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê" và 10 đơn vị "kinh tế và triết học Mác-Lê". Ban văn khoa c̣n phải học thêm lịch sử đảng cộng sản Việt Nam. (6)

- 3 -

Năm 1990, Việt Nam đă kư "Bản tuyên bố quốc tế về giáo dục cho mọi người" để tham gia chiến dịch thế giới chống nạn mù chữ cho thập niên 1990 - 2000. 
Sau 10 năm nỗ lực thực hiện chương tŕnh, dân chúng Việt Nam có 94% biết đọc, biết viết. Chánh phủ Việt Nam đặt tiêu chuẩn đến năm 2010 sẽ phổ cập trung học cấp I và đến năm 2020 sẽ hoàn tất việc phổ cập trung học cấp IỊ Cấp tiểu học đă hoàn tất ở năm 2000. (7).
Trong thực tế, niên khoá 1997 - 1998, cấp tiểu học có 99% trẻ em trong tuổi đi học ghi danh. Trung học cấp I có 77, 7% học sinh ở lứa tuổi đi học; trung học cấp II gồm có 36, 2% học sinh theo học.
Trường công được phép thu tiền của học sinh từ tháng 9 năm 1989 để đóng góp vào luơng giáo chức, sách giáo khoa và đồng phục. Cũng từ năm này, một số trường dân lập được phép hoạt động tại Saigon và vài thành phố lớn.
Học phí trường tư từ 500.000 đồng/tháng cho trung học cấp I và 700.000 đồng/tháng cho trung học cấp IỊ
Trong lúc ấy, lệ phí đóng góp cho truờng công từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng/tháng. (8)
Trường tư được các gia đ́nh có tiền chọn gởi con em theo hoc, v́ việc dạy dỗ và chăm sóc cho học sinh chu đáo hơn trường công (lớp học ít người, giờ dạy đầy đủ, giáo chức có khả năng, ...) 
Nếu nhận xét th́ sẽ thấy việc dạy dỗ và thi cử ở Việt Nam ngày nay xuống cấp thảm hại: học sinh bỏ học nửa chừng, giáo chức thiếu khả năng, dạy không đủ chương tŕnh v́ c̣n phải dành th́ giờ làm thêm kiếm tiền cho đủ sống qua ngày, v́ lương giáo chức từ 25 - 30 Mỹ kim/tháng. (9)
Giáo dục cấp đại hoc là để đào tạo nhân tài phát triển đất nước. ở Việt Nam, lứa tuổi 18 - 24 chỉ có 1, 5 - 2% vào đại học và các trường chuyên nghiệp cao đẳng. Tỷ lệ sinh viên c̣n quá thấp: 50 sinh viên/10.000 người, trong lúc đó Phi Luật Tân là 270, Thái Lan là 170. (10)
T́nh trạng này báo hiệu những khó khăn nghiêm trọng khi Việt Nam tuyên bố bước vào kinh tế trí tuệ.
Ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo tính theo GDP là 1,4% năm 1992 và 2,1% năm 1999. (11)
Ngân sách này tài trợ cho các đại học, các trường cao đẳng và các chương t́nh nghiên cứụ Ngoài ra, về phần giáo dục cơ bản, ngân sách tài trợ cho các tỉnh 1/4 ngân sách giáo dục tỉnh. Phần c̣n lại do tỉnh đài thọ. Cách phân phối ngân sách giáo dục và đào tạo như sau: 
- 30% ngân sách dành cho tiểu học,
- 27% ngân sách dành cho trung học,
- 13% ngân sách dành cho đại học,
Phần c̣n lại được chi phí cho trung học cấp I, 5%, trung học cấp II và 10% các chương tŕnh đặc biê.t. (12)
Các nguồn tài trợ ngoài ngân sách giáo dục - đào tạo là do các viện trợ.

3.- Giáo dục ở việt nam cần phải được cải tổ đúng mức.-

Giáo dục ngày nay được nhiều nước trên thế giới xem là vũ khí chiến đấu sắc bén. Họ dồn nhiều nỗ lực để thăng tiến nghành giáo dục nhằm đầu tư vào việc phát triển đất nước. 
Vậy mà từ nhiều năm nay, giáo dục ở Việt Nam vẫn chưa thoát ra khỏi t́nh trạng lạc hậu, với những khó khăn bế tắc tự gây ra và nhiều chứng bịnh tiêu cực kéo dài không biết đến bao giờ mới chấm dứt đươc. Hậu quả tất nhiên là dân Việt Nam tụt hậu dài trong nhiều địa hạt khoa học, so sánh với những nước vốn chẳng phải vượt trội ǵ hơn nước ta trước đâỵ (13) Ngày nay, Việt Nam chỉ nổi tiếng thi cử gian lận, bằng cấp giả từ trung học đến tiến sĩ bán tháo khoán trên thị trường. (14)

- 4 -

Từ khi Nhà nước đưa ra khẩu hiệu "đại học hoá cán bộ, đảng viên" th́ cán bộ tại chức mỗi người phải có bằng cấp để, hoặc điều chỉnh chức vụ của ḿnh, hoặc chờ thăng tiến lên một địa vị cao hơn. Thế là chương tŕnh giáo dục tại chức được mở rộng và lược giản để áp du.ng. Từ 4 năm đại học được rút lại c̣n 4 tháng. 
T́nh trạng này làm khủng hoảng việc học b́nh thường của lớp sinh viên ở lứa tuổi đi học. Niên khóa 1975 - 1976, sinh viên ở lứa tuổi đi học chiếm 85% tổng số sinh viên. Đến niên khóa 1994 - 1995, số sinh viên này chỉ c̣n 38%. Thanh niên bỏ học, dù có học th́ cũng thất nghiệp bởi v́ cán bộ đảng viên với bằng cấp tại chức, bằng cấp giả đó chiếm hết chỗ làm rồị (15)
Đại học xuất hiện tận cấp huyện, nhưng chỉ gồm có pḥng học và vài bàn ghế. Viện đại học bảo trợ chia tiền trên số hồ sơ do trường đại học cấp huyện nộp lên. (Đại học chỉ hoạt động trên giấy tờ). 
T́nh trạng này xảy ra hơn 10 năm, do luật cung/ cầu mà cung cao hơn cầu nên chánh quyền giáo dục phải kích cầụ Thực tế kiểm chứng được ở một số sinh viên đại học không viết đuợc tiếng Việt cho đúng. (16)
Về phía giáo chức đại học, phần lớn họ không hề nhận thấy là họ bị lạc hậu, v́ bị lạc hậu quá xa nên nh́n về phía trước không c̣n trông thấy ǵ hết. (17)
C̣n tệ trạng bằng cấp giả, thi cử gian lận ở các cấp được công khai giải thích là do nhu cầu xă hộị
Về tŕnh độ được đào tạo, thanh thiếu niên từ 13 tuổi trở lên có 7, 6% có tối thiểu chuyên môn nào đó, trong đó có 2, 3% công nhân kỹ thuật có tay nghề, 2, 8% có tŕnh độ trung học chuyên nghiệp, 0, 7% có tŕnh độ cao đẳng, 1, 7% có tŕnh đ đại học và 0, 1% có tŕnh độ hậu đại học. Việt Nam hiện có hơn 10.000 sinh viên đi học ở nước ngoài, hầu hềt là con em của gia đ́nh quan chức có tiền bạc. (18)
Chánh quyền giáo dục ở Việt Nam không quan niệm dạy học là trang bị cho tuổi trẻ đủ hiểu biết để tham gia phục vụ đất nước, mà là để cấp phát cho những người cần được đăi ngộ một cái bằng để bảo đảm cho người ấy một địa vị xă hội nhứt định, bất cần năng lực của họ ra saọ Năng lực phục vụ được gọi là chuyên, c̣n thành phần xă hội đuợc xem là tiêu chuẩn của đỏ. Mà đỏ là chính, c̣n chuyên là phụ. (19) 
Có người phê phán những thành phần có bằng cấp loại này không thể nắm giữ chức vụ điều hành công việc, v́ chỉ có làm hỏng công việc mà thôị Họ đặt vấn đề phải xét lại khả năng, và nếu cần, phải cho đương sự tu nghiệp trở lại, liền lập tức bị lên án đó là những "mủi dao găm đâm sau lưng giai cấp công nông". (20)
Nhận xét thực trạng của giáo dục - đào tạo Việt Nam ngày nay, người có ư thức về tầm quan trọng của giáo dục trong việc xây dựng và phát triển đất nước không thể không đề nghị sửa đổi, để trước tiên, thật sự chấm đứt t́nh trạng thảm hại đă kéo dài quá lâu, tiếp theo, xây dựng một chánh sách giáo dục - đào tạo có khả năng xây dựng con người phục vụ đất nước ngày mai nàỵ 
Trong trường hợp Việt Nam, không thể đặt vấn đề hiện đại hóa giáo dục, mà phải thay đổi cơ cấu từ căn bản, từ chương tŕnh học, cách điều hành đến nhân sự làm giáo dục. Cốt lơi là thay đổi tư duy giáo dục, xác định lại quan niệm về mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường, tinh thần học hỏi của lớp trẻ, để từ đó xây dựng lại một nền giáo dục phù hợp với yêu cầu của xă hội và cuc sống trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, nhưng phải trên nền tảng luân lư đạo đức. Trên quan điểm tổng quát đó, việc cải tổ phải nhằm thực hiện những vấn đề chánh sau đây:
*- đào tạo cho lớp trẻ tinh thần tôn trọng tự do và tự chủ để rèn luyện, phát huy óc sáng tạo, tinh thần trách nhiệm, tránh bịnh xơ cứng tư duy cố hữu; 
*- công bằng, dân chủ để bảo đảm cho mọi công dân quyền b́nh đẳng về cơ hội học tập và thành đạt. Đó c̣n là điều kiện tối cần thiết để phát triển xă hội; 
*- giáo dục là một khoa học đào tạo con người th́ phải phóng khoáng, khoa học và nhân bản. Chấm dứt t́nh trạng nhồi nhét ngay từ tuổi trẻ những giáo điều xơ cứng, làm thui chột óc tưởng tượng, khả năng sáng tạo của học sinh;
*- mau chóng tăng số năm học trung b́nh của lực lượng lao động để giúp Việt Nam đuổi kịp các nước trong khu vực;
*- cho phép và hoàn trả các cơ sở giáo dục tư và của các tôn giáo, để đóng góp vào chương tŕnh giáo dục quốc gia thêm phần hữu hiệu, nhứt là về mặt chấn hưng đạo đức xă hội; 
*- thi cử, tuyển sinh phải dựa trên khả năng, dứt khoát phải dẹp bỏ lư lịch; học bổng, trợ cấp cho học sinh nghèo, ngoan và giỏi; hạn chế đi dần đến dẹp bỏ những lớp bổ túc vô ích, tốn kém cho học sinh về th́ giờ và tiền bạc;
*- kiểm soát lại sách giáo khoa, loại bỏ những thứ vô giá trị, qui định lại vấn đề sử dụng sách giáo khoa, xây dựng và chỉnh đốn thư viện nhà trường ...
Mục đích cải tổ từ căn bản giáo dục và đào tạo ở Việt Nam ngày nay là nhằm đưa nền giáo dục trở lại quỉ đạo lành mạnh, nghiêm túc, tăng hiệu quả giáo dục, tránh lăng phí, đưa nhà trường đi gần với yêu cầu hội nhập hài ḥa với thế giới ngày naỵ
Cải tổ giáo dục - đào tạo ở Việt Nam là một việc lớn, nên phải có kế hoạch thực hiện chu đáo và can đảm để triệt để. Đặc biệt quan trọng là sự lănh đạo, chỉ đạo của nhà nước và sự nhiệt t́nh hưởng ứng, tham gia của toàn xă hộị Mà nhà nước phải là một nhà nước dân chủ pháp trị, mới có khả năng thực hiện sứ mạng cải cách.

Iị- Y tế ở việt nam ngày naỵ-

Những khám phá khoa học gần đây cho thấy con người giữ một vai tṛ tối quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia, nếu con người được đào tạo chu đáo và đúng mức về mặt kiến thức và thể chất. Kết quả khám phá khoa học quả quyết yếu tố con người đem lại đến 4/5 cho GDP. Chính v́ thế mà ngày nay có xu hướng thay thế những chỉ tiêu đơn thuần kinh tế để ước lượng phát triển bằng những chỉ tiêu phức tạp hơn, gồm thêm thông số về sức khoẻ.
Biết rằng sức khoẻ là gánh nặng cho ngân sách quốc giạ Nhưng không phải có tiền nhiều th́ sức khoẻ dân chúng sẽ tăng lên, bệnh tật giảm. Hoa kỳ chi phí cho sức khoẻ cao nhứt thế giới (gần 14% GDP) nhưng tuổi thọ trung b́nh của người dân Hoa kỳ không cao hơn, số trẻ con tử vong không thấp hơn các nước Âu châu, mặc dầu ở Âu châu ngân sách dành cho sức khoẻ thấp hơn Hoa kỳ. (21)
Đối với Việt Nam, phải có một quan niệm về một hệ y tế thích nghi cụ thể. Tốn kém vừa phải theo khả năng kinh tế của Việt Nam, nhưng lại đạt hiệu quả mong muốn. Dung ḥa được những đ̣i hỏi trái ngược nhau giữa nhu cầu trị bịnh cho cá nhân với pḥng bệnh cho cộng đồng.

1.- Những yếu tố ngoại tại và mạng lưới y tế.-

Sau khi chiếm được miền Nam và thống nhứt đất nước, Hà nội ban hành ngay kế hoạch ngũ niên (1976 -1980) đưa ra chỉ tiêu Việt Nam theo kịp tư bản. Thực tế cho thấy đó là 5 năm tụt hậu, đói kém trầm trọng:
*- chỉ tiêu sản xuất sản phẩm vật chất là 13% - 14%, đạt được 0, 4%,
*- nông nghiệp, chỉ tiêu 8% - 10%, đạt được 1, 9%,
*- công nghiệp, chỉ tiêu 16% - 18%, đạt được 0, 6%.
- 6 -

Năm 1978, sản xuất lúa gạo tính theo đầu người được 238 kg. Trong 3 năm liền 1978, 1979, 1980, chánh quyền giảm khẩu phần của dân chúng, nên không c̣n khả năng quan tâm tới vấn đề y tế nữạ 
Sự khủng hoảng xă hội do đường lối tiến nhanh tiến mạnh cả nước lên Xă hi Chủ nghĩa, đưa đến t́nh trạng kinh tế thảm hại:
*- năm 1985, Việt Nam lạm phát 92%,
*- năm 1986, Việt Nam lạm phát 490%,
*- năm 1987, Việt Nam lạm phát 360%,
*- năm 1988, Việt Nam lạm phát 400%.
Khủng hoảng làm hợp tác xă phá sản, kéo theo sự sụp đổ của mạng lưới y tế nông thôn... 
Từ năm 1989, nhờ chánh sách "đổi mới", khu vực tư nhân phục hồi, nên nền y tế cũng bắt đầu tái hoạt động, nhưng cũng bắt đầu thu lệ phí. (22)
Thực sự bước vào kinh tế thị trường, y tế xă hội chủ nghĩa từ bỏ ba thập kỷ miển phí. Năm 1991, Saigon bắt đầu thu tiền cho y tế. Thuốc men được nhập cảng phụ thêm phần của Việt kiều gởi về và bày bán trên thị trường, không có kiểm soát.
Kinh tế nhờ đổi mới, chấp nhận sự làm ăn của tư nhân, nên bắt đầu ổn định và tăng trưởng, dần dần cải thiện nền y tế, tuy về mặt cải thiện, y tế có tiến chậm hơn kinh tế.
Dân chúng cho rằng nhờ hợp tác xă và cách sản xuất theo hợp tác hóa xă hội chủ nghĩa bị dẹp bỏ, nên mức thu nhập mới được tăng, làm thay đổi bộ mặt tiêu điều của trường học và bệnh xá của thời kỳ trước.
Nhưng lại có nhiều vấn đề mới nảy sanh. Từ nay, bệnh nặng phải vào nhà thương để được chửa trị th́ phải mất tiền, điều này làm phương hại đến quyền được chăm sóc sức khoẻ của người nghèọ 
Từ năm 1994, trong khu vực Saigon, y tế giúp giải quyết cho 10, 32 triệu lượt ngườị Có 8 triệu lượt người đến y tế tư.
Nhận xét chung th́ y tế có cải thiện nhiềụ Nhưng y tế lại nặng về phần chửa trị cá nhân, có lợi cho thành phần có tiền mà thiệt tḥi cho cộng đồng, v́ nhẹ phần pḥng vệ.
Đầu tư vào y tế c̣n thấp kém. Khoảng cách giữa thành thị với nông thôn, giữa vùng nghèo với vùng giàu có, giữa nông thôn với nhau, chưa san bằng hợp lư được, bởi chánh sách y tế c̣n thiếu một phương thức điều hành khoa học.
Năm 1997, ngân sách dành cho y tế là 250 triệu mỹ kim, chiếm 3, 5% ngân sách quốc gia, chia cho 77 triệu dân, mỗi người hưởng được 3, 2 mỹ kim/năm. Người nghèo hưởng được 11% trợ cấp y tế, c̣n người giàu hưởng được 30% trợ cấp y tế theo ngân sách. (23) Trong lúc đó, ở cùng địa phương, các nước khác đầu tư vào y tế như Bangladesh: 4, 5%, Tàu: 4, 2%, Nam dương: 3, 8%, Ấn đ: 6, 7% và Thái lan: 6, 1%. 
Năm 1996, Nghị quyết Đại hội Vlll, đảng cộng sản Hà nội khẳng định "kiện toàn mạng lưới y tế cấp xă, huyện; đẩy mạnh pḥng bệnh". Nhưng trong thực tế th́ chỉ có chích ngừa, chống HIV, kế hoạch hoá gia đ́nh. Hoạt đng y tế cả nước chỉ nghiêng về y tế điều trị.
Ngân sách dành cho y tế điều trị vượt hẳn y tế pḥng bệnh: 4 - 1, lên đến 6 - 1, trong lúc đó các tổ chức quốc tế khuyến cáo nên giữ tỷ lệ: 2 - 1. So với các nước trong vùng, Việt Nam có được một đi ngũ nhân sự làm công tác y tế tương đối tốt: 4, 2 y sĩ cho 10. 000 dân. (Tàu: 10/10.000 dân, ấn đ: 3, 97/10.000 dân, Srilanka: 1, 81/10.000 dân, Thái lan: 1, 6/10.000 dân, Nam dương: 1, 06/10.000). (24) 

2.- Những con số liên quan đến y tế việt nam.-

Dân số Việt Nam tập trung đông đảo ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long (1.180 người trên 1 km vuông, so với tỷ lệ trung b́nh là 235 người trên l km vuông). 
- 7 -

Cơ sở y tế ở hai nơi đây cũng dồi dào hơn vùng nông thôn và miền núi, tuy những vùng này chiếm 80% lănh thổ. Việc chăm sóc sức khoẻ cho dân chúng cũng đa dạng và đa năng hơn.
Khí hậu Việt Nam nóng và ẩm dễ làm phát sanh bệnh truyền nhiễm, có khả năng gây tử vong ở tỷ lệ caọ Với gần 80 triêu dân, Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 12 trên thế giới, và quốc gia thứ nh́ ở Đông nam Á, sau Nam dương. Trong ṿng 10 năm ( 1900 - 2000) dân số Việt Nam tăng 10 triệu người, mặc dù có những nỗ lực lớn của ủy ban Kế hoạch hoá gia đ́nh. Dân chúng Việt Nam trẻ: dưới 15 tuổi chiếm 30% dân số. Người già trên 60 tuổi chỉ chiếm 10% dân số. 
Ngày nay dân số gia tăng chỉ c̣n 1, 7% so với trước đây 2, 1%. Tử vong giảm xuống 19, 1/1.000 vào năm 2.000, so với năm 1989 là 30/1.000. Mức sanh đẻ giảm từ 4 con/mẹ ở năm 1987 xuống c̣n 2, 5 con/mẹ ở năm 2.000. Nhà cầm quyền Việt Nam hy vọng sẽ đạt mức quân b́nh dân số trong vài năm tớị
Mặt khác, trong một tương lai không xa, Việt Nam sẽ phải đối phó gánh nặng về an sinh xă hội cho lớp người già sẽ tăng đến 12, 7% dân số vào năm 2024. (25)
Việt Nam thực hiện được sự tăng trưởng kinh tế (7, 3% năm/400 mỹ kim/đầu người) đồng thời sự tăng trưởng này cũng đặt cho Việt Nam những vấn đề phức tạp mà trước đây không có. Hằng năm có từ 70.000 đến 100.000 di dân đến các thành phố lớn như Hà nội và Saigon, làm gia tăng mức độ đô thị hoá đến 45% trong thập niên tới, với phần lớn là tuổi trẻ từ 15 - 19, thanh nữ đông hơn.
Sự gia tăng dân số dồn dập, dĩ nhiên đ̣i hỏi phải gia tăng được đáp ứng những nhu cầu cơ bản về giáo dục, đào tạo và y tế, vốn đă có nhiều khó khăn địa phương rồi (gia tăng bệnh truyền nhiễm như SIDA: 250.000 trường hợp, những tệ nạn xă hội như ma túy, thanh niên du đảng,...)
Tuy nhiên, phải thừa nhận chánh sách y tế của chánh quyền có đem lại hiệu quả cụ thể: giảm bệnh truyền nhiễm thiên thời, làm giảm số tử vong cho dân chúng. Đối với số tử vong của trẻ con trong thập niên 60 là 156/1.000, giảm xuống c̣n 46/1.000 trong thập niên 80. Tuổi thọ trung b́nh hiện nay là 67.
Một vấn đề đáng lo ngại nữa, là t́nh trạng trẻ con thiếu dinh dưỡng mà hậu quả sẽ vô cùng tai hại cho sự phát triển quốc gia vẫn c̣n trầm tro.ng. Người ta ước tính mức thiếu dinh dưỡng của trẻ con Việt Nam ngày nay là 37%, mặc dầu Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia đứng hàng đầu xuất cảng gạọ Tỷ lệ này lên đến 47% ở vùng nông thôn.
Do thiếu dinh dưỡng, một số bệnh truyền nhiễm và vi trùng vẫn c̣n tác hại mạnh dân chúng như bệnh lao phổi, tiêu hóa, gan B, tiêu chảỵ Ngăn chặn những bệnh tật này, ngoài vấn đề dinh dưỡng, c̣n phải cải thiện vấn đề vệ sinh cơ bản (47% dân thành phố, 42% dân nông thôn có nước uống và chỉ có 43% dân thành phố, 15% dân nông thôn sử dụng hệ thống thoát nước tương đối sạch sẽ). (26)
Sau cùng, sự tăng trưởng kinh tế tạo ra cho Viêt Nam một hiện tượng sức khoẻ mới: bệnh do có tiền và xài tiền, "bệnh trưởng giả".
Thật thế, Việt Nam vốn có 37% dân chúng sống dưới mức nghèo theo qui định quóc tế, những bệnh nhà giàu đă bắt đầu xuất hiện từ năm 1998: bệnh tim mạch trở thành nguyên nhân thứ nh́ nhập viện và tử vong, bệnh áp huyết cao, ph́ mập,... (27)

3.- Tổ chức và quản trị mạng lưới y tế.- 

Y tế Việt Nam được tổ chức theo hệ thống tản quyền. Đến năm 1997, người ta ước tính có gần 99% làng xă Việt Nam có một trạm y tế gồm 3 - 5 nhân viên: y tá, dược tá và hộ sinh. Nhiệm vụ là cung cấp cho lối 6.000 dân những săn sóc cơ bản và pḥng bệnh (chích ngừa, kế hoạch gia đ́nh ...) Y tế Huyện gồm y sĩ, dược sĩ, nha sĩ, y tá, h sinh, tất cả từ 15 - 20 người, do Huyện quản lư trực tiếp. Có nhiều Huyện có một trung tâm đa khoạ Ngoài nhiệm vụ đào tạo nhân sự y tế cho Xă, y tế Huyện chửa trị và pḥng bệnh cho từ 6 đến 20 xă với một dân số từ 70.000 đến 150.000 ngườị Ngân sách do tỉnh đài thọ và phần c̣n lại do sự đóng góp thêm. Y tế Tỉnh trách nhiệm quản lư và điều hành y tế Huyện và Xă. Ở Tỉnh có bệnh viện tỉnh chửa trị đa khoa và điều động những chương tŕnh pḥng bê.nh. Y tế Tỉnh sản xuất một số thuốc chủng và dụng cụ y khoa, đào tạo nhân viên y tế cho địa phương.
Trên cùng, ở cấp quốc gia, có B y tế ban hành chánh sách y tế, chương tŕnh y tế cấp nhà nước và quản lư tổng quát hoạt động y tế.
Tuy nhiên, trung ương không đài thọ trọn ngân sách y tế mà chỉ có 28%, c̣n 55% do ngân sách tỉnh, 10% do bảo hiểm sức khoẻ và 7% do bệnh nhân trả. Nên chi phí cho y tế chỉ chiếm có 4% ngân sách quốc giạ (28) Và cũng do sự phân phối ngân sách mà việc tổ chức và điều hành y tế Việt Nam thường gặp nhiều mâu thuẫn, gây trở ngại lớn cho việc săn sóc sức khoẻ dân chúng.
Phải thừa nhận Việt Nam có được một hệ thống bệnh viện tương đối hùng hậu hơn Mă lai, Thái lan hay Phi luật tân. Trong số 817 bệnh viện công, có 91% hoạt động toàn khoa và 64% do y tế Huyện quản lư. 
Ngoài ra, y tế Việt Nam c̣n những cơ sở thuộc quân y, công an, hoả xa quản lư, cung cấp cho 38% số giường bê.nh.
Từ 10 năm nay, hoạt đng y tế có gia tăng. Năm 2000, cứ 1 y sĩ săn sóc cho 2.300 ngườị Mỗi năm, có 2.000 tân khoa y sĩ tốt nghiệp từ 6 trường y khoa trên toàn quốc. Có 33.000 y sĩ đang hành nghề, 2/3 là y sĩ tổng quát, lại tập trung tại các thành phố lớn nên bỏ trống nông thôn, nơi có đến 75% dân chúng sinh sống. Do đó, về khả năng chửa trị, chỉ có được 1/4 xă có 1 bác sĩ, phần c̣n lại, nhờ vào khả năng của các trợ tá đào tạo trong 3 năm. 
Cùng với y sĩ, Việt Nam có 5.700 dược sĩ cấp I (học dài hạn) và 6.500 dược sĩ cấp II (học ngắn hạn). Về nha sĩ, có 2.000 nha sĩ đang hành nghề, nên tỷ lệ chăm sóc dân chúng về răng miệng rất thấp (1/72.000 dân - ở Pháp: 1/1.400 dân). Nha sĩ chỉ làm việc ở các thành phố lớn mà thôị
Về y tá, y công, Việt Nam hiện có 46.000 y tá, 13.000 y công. Từ năm 1986 đến 1996, số nữ hộ sinh giảm 56%. T́nh trạng thiếu y tá, y công ở Việt Nam làm cho vai tṛ của thân nhân bệnh nhân khi nằm bệnh viện rất cần thiết. Và, Việt Nam là nước ở Đông nam Á có tỷ lệ bác sĩ cao nhất so với y tá hành nghề. 
Từ năm 1989, chánh quyền cho phép y tế và y dược tư hoạt đng song hành với mạng lưới y tế công. Nhưng trong thực tế, có đến 12% cơ sở y tế tư hành nghề chưa có giấy phép chánh thức, do nhu cầu chửa trị của dân chúng đ̣i hỏi, nên vẫn được tồn tại (theo ước tính của B y tế, có 26.000 người hành nghề có phép trên số 213.000 người đang hành nghề y tế tư).
Có đến 70% y tế tư hoạt đng ở thành phố, c̣n lại 30% đi về nông thôn. Sự mất quân b́nh này làm cho dân chúng nông thôn gặp thêm khó khăn trong việc chăm sóc sức khoẻ. (29)
Những khó khăn gần như nan giải mà y tế Việt Nam phải đối phó là vấn đề trang thiết bị cho bệnh viện: pḥng thí nghiệm, quang tuyến, pḥng giải phẩu...Thực tế cho thấy chỉ có 18% dụng cụ c̣n sử dụng được, 50% c̣n lại trở thành phế thải, do thiếu bảo tŕ từ 30 năm naỵ
Mặt khác, khả năng tiếp nhận bệnh nhân của bệnh viện quá thấp so với dân số tăng: 1 giường cho 380 người năm 2000 (năm 1989: 1 giường cho 300 người).
Lương trả cho bác sĩ thường thấp (30 - 50 mỹ kim/tháng) và 3.000 bác sĩ vẫn thất nghiệp v́ không có chỗ làm ở thành phố lớn mà không dám đi về nông thôn, do chánh sách quản lư thiếu linh động. Những chỗ tốt dành cho người không được chọn v́ khả năng, mà chủ yếu là phe cánh và quan điểm chánh trị. 


- 9 -

Ngày nay người dân, không kể yếu tố địa phương như thành phố, nông thôn, được chăm sóc sức khoẻ c̣n do thành phần xă hội (30% nhập viện thuc 20% gia đ́nh có tiền, chỉ có 8% nhập viện thuc 20% gia đ́nh nghèo). 
Phải chăng để đem y tế đến cho mọi người mà năm 1992, chế độ bảo hiểm sức khoẻ được định chế hóa, và năm 1998 cải tổ. Bảo hiểm cưỡng bách dành cho 10 triệu người, phần lớn ở khu vực công hoặc bán công (đóng 5% trên lương, xí nghiệp trả cho 15%. Thực tế, hai bên chẳng mấy ai đóng ṣng phẳng). Song song, có chế độ bảo hiểm tự nguyện đài thọ cho 4 triệu người, hết 17% là sinh viên.
Chế ộđ bảo hiểm sức khoẻ chỉ mới giải quyết được cho 6% dân chúng có mức lương thấp, và 29% dân chúng có lợi tức caọ Phần dân chúng c̣n lại vẫn phó mạng cho trời !

4.- Hướng y tế việt nam cho ngày maị-

Nhận xét chính chắn, thấy nền y tế Việt Nam c̣n rất nhiều bất ổn, phương hại đến việc chăm sóc sức khoẻ dân chúng để thực thi chánh sách "xây dựng con người" hay "chiến lược con người".
Hiện có một số bệnh viện có trang bị mới nhưng thiếu người sử du.ng. Y tá bỏ nghề: từ 8, 97/10.000 dân, gảm suống c̣n 6, 1/10.000 dân.
Xă hội chuyển đổị Thành thị phát triển ồ ạt, nông thôn đổ ào về thành thị, bệnh tật biến đổi và chuyển đổị
Trọng tâm của y tế ngày mai là pḥng bệnh, v́ pḥng bệnh vẫn ít tốn kém hơn chửa bê.nh. Mà y tế cộng đồng ở Việt Nam lại càng ngày càng yếu kém, do chánh sách nhà nước thiếu quan tâm đúng múc vào khu vực sức khoẻ dân chúng. 
Đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở do ủy ban Kế hoạch nhà nước quyết định, lănh vực y tế không được chú tro.ng. Ngân sách thường bao gồm đầu tư vào xây dựng cơ sở vật chất, bảo tŕ và lương bổng:
*- chi tiêu y tế trên đầu nguời bằng mỹ kim: 0, 83 (3, 2 kể cả ngoại viện),
*- tổng số chi ngân sách: 3, 3%,
*- tính trên GDP: 0, 7%. (30)
Chánh quyền Việt Nam phải cải tổ hệ thống y tế trên cơ sở kết hợp hài ḥa: y tế điều trị với y tế pḥng bệnh, khi thầy thuốc đông, trụ sở nhiều, để dân chúng dần dần được giáo dục về sức khoẻ.
Kinh tế thị trường th́ phải tạo điều kiện thuận tiện cho thầy thuốc làm tư. Đối với công chức, nhân viên y tế phải có mức lương đủ sống để phát triển nghề nghiệp, nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo cho y tế Việt Nam những nhân tài thật sự, không cần quan điểm chánh trị.
Trong hướng cải tổ mới, bệnh viện phải được quan niệm là một bộ phận của y tế pḥng bệnh, để kết hợp nhuần nhuyễn điều trị với pḥng bệnh, rồi hoà hợp vào mạng lưới y tế địa phương, biến thành một hệ thống hổ tương cho nhaụ Bệnh viện cập nhật hóa lư thuyết và thực hành phổ biến đến mạng lưới, giúp nhân viên y tế trong mạng lưới được nâng cao khả năng. Nhờ đó, dân chúng nông thôn được chửa trị và cũng làm giảm gánh nặng tập trung về bệnh viện (thành phố - tỉnh). 
Đa số nhân viên y tế không tiến bộ từ ngày ra trường cách đây 20, 30 năm. Đó là nguyên nhân không giúp chửa trị được những bệnh hiểm nghèo, khi gởi đến bệnh viện th́ đă quá trễ. Hoặc bệnh nhẹ cũng gởi về bệnh viê.n. Cả hai trường hợp đều làm mất ḷng tin của dân chúng đối với chánh quyền y tế.

Kết luận .-
- 10 -

Giáo dục và y tế ở một quốc gia có một chánh quyền thật sự do dân, v́ dân, không phải chỉ là chánh sách đơn thuần nhằm đào tạo con người về kiến thức và thể chất để phục vụ đất nước, phát triển quốc gia, mà đó c̣n là thiên chức của chánh quyền biết tôn trọng và thực thi nhân quyền, bởi giáo dục và y tế, trước hết là quyền tự nhiên của con người, cần phải được tôn trọng để bảo đảm cho người dân được quyền sống xứng đáng với nhân phẩm của ḿnh. Chánh quyền ở Việt Nam đă kư kết "Bản tuyên bố giáo dục cho mọi người" và ban hành chánh sách phổ cập tiểu học và trung học trên cả nước, thế mà đă không có biện pháp giải quyết thích nghi vấn đề tuyển sinh vào lớp I cấp tiểu học ở trường công lập, bắt phụ huynh phải đóng góp một chi phí lớn so với mức lợi tức hằng tháng để con em có thể theo học hết cấp phổ thông. Đây là trường hợp chánh quyền Hà nội vi phạm nhân quyền nghiêm tro.ng. (trên Công Ước Quốc tế)
Chánh quyền Việt Nam hô hào "chiến lược con người", "giáo dục là quốc sách hàng đầu", trên thực tế, ngân sách dành cho giáo dục cũng như y tế quá ít, đủ nói lên mức quan tâm của chánh quyền đối với hai địa hạt đào tạo nhân lực này là mơ hồ.
Đảng cộng sản tự cho ḿnh sứ mạng lănh đạo nhà nước và xă hội mà gồm toàn những đảng viên có chức có quyền già nua, không học, nên giáo dục và y tế ở Việt Nam bị xem thường, từ đó, sự tiến bộ về hiểu biết và sức khoẻ của dân chúng cũng bị xử lư tùy tiện theo điều kiện xă hội giàu/nghèo, thế lực của người thụ hưởng.
Giáo dục và y tế cần phải được cải tổ đúng mức, nếu chánh quyền biết quan tâm đến tương lai dân tộc.
Cải tổ phải được tiến hành bằng cải tổ nhân sự từ tư duy, cung cách làm việc, khả năng nghề nghiệp, đến cải tổ cách quản lư, chánh sách cấp quốc giạ

Phải dứt khoát từ bỏ vĩnh viễn hồng hơn chuyên, phải đưa giáo dục và y tế trở về đúng địa vị của nó, đặt ư hệ chánh trị ra khỏi hiểu biết chuyên môn. Chỉ có hiểu biết mới thật sư nâng cao giá trị con ngườị
Và cơ bản để thực hiện cho có hiệu quả, chánh quyền ở Việt Nam phải được dân chủ hóa theo đường lối hiến định, để người dân kiểm soát thường xuyên và hữu hiệu chánh quyền.

Dân chủ sẽ không cho phép t́nh trạng kém mở mang và nghèo đói của một quốc gia có thể tồn tại lâu dàị

Tiến sĩ Nguyễn văn Trần

- 11 -

Ghi chú:

- (1) - (2) - Xuân Quang, tạp chí Dân Chủ và Phát triển, số 19 tháng 11- 2000, Đức.
- (3) - Hiến pháp 1992 và báo cáo chánh trị Đại hi Vlll và lX.
- (4) - Le Courrier du Viênam, 14 - 01 - 00, Hànị
- (5) - Tôn Thất Long, Thông Luận, số 149 - tháng 6/2001.
- (6) - Tôn Thất Long, sđd.
- (7) - Le Courrier du Vietnam, 31/03/02 - Hànị
- (8) - Le Courrier du Vietnam, 04/03/01 - Hànị
- (9) - Tuổi Trẻ, ngày 17/08/01, Saigon: 
*- Sinh viên ra trường thất nghiệp: 1997: 64%, 1998: trên 8%, 1999 có gần 90%. 
Cơ quan tư vấn về đầu tư PERC xếp Việt Nam 11/12 về giáo dục trong ASEAN.
- (10) - Trần Nam B́nh, Đánh thức con Rồng ngủ quên, Saigon, 2001.
- (11) (12) - Xuân Quang, sđd.
- (13) - Hoàng Tụy, Diễn Đàn, số 112, tháng 11/2001, Paris.
- (14) - Việt Nam Dân Chủ, số 54 - 03/2001, Paris.
*- Theo Giáo sư Đặng Hữu, Trưởng ban Khoa giáo TƯ đảng, phát biểu tại Hi nghị Tổng kết Công tác Khoa giáo TƯ, hôm 13/12/2001: năm 2000, Việt Nam có hơn 3000 bằng cấp từ Tú tài đến Tiến sĩ giả. Gần đây, có mt giói chức Việt Nam cho biết, con số ấy phải lên đến hàng vạn rồị
Cụ thể: Nguyễn Tiến Thoă, Viện trưởng viện Nghiên cứu Khoa học Thị trường và Giá cả, bị mất chức v́ bằng Tiến sĩ giả.
- (15) - Tôn Thất Long, Thông Luận, số 147, tháng 04/2000, Paris và Việt Nam Dân Chủ, số đd.
*- Theo kư giả Margot Cohen, trong 2, 4 triệu đảng viên, 18% có tŕnh đ đại học, 1% hậu đại học - 12% dưới 30 tuổi; 41% trên 50 tuổị 
- (16) - Cao Xuân Hạo, Diễn Đàn, số 110 - 9/2001, Paris.
- (17) - Cao Xuân Hạo, sđd.
- (18) - Diễn Đàn, số 95 - 4/2000, Paris.
- (19) (20) - Cao Xuân Hạo, sđd. 
- (21) - Bùi mng Hùng, Diễn Đàn, số 30, Paris, 1994.
- (22) - Revue Xă hi học, số 2/1997, Hànị
- (23) - Quân Tử, tạp chí Dân chủ và Phát triển, số 13 - 10/1998, 
*- trích dẫn theo báo cáo Ngân hàng thế giới số 13442, 1995. Nên nhắc lại, những năm từ 1990, ngân sách Việt Nam chỉ dành 16%, trong khi đó dân chúng phải bỏ ra 84% chi phí. Bệnh nhân ở nông thôn chỉ có 10% cơ hi được có bác sĩ chửa trị. Ngân sách về y tế, so với GDP chỉ có 1%, xếp Việt Nam vào hạng chót ở Á châụ
- (24) - Bùi mng Hùng, tạp chí Tḥi Đại 1, 1997, Paris.
- (25) - Báo cáo của ủy Ban điều tra y tế của Thượng viện Pháp, trong phiên họp thường lệ ngày 19/02/02 Paris.
- (26) (27) (28) (29) Báo cáo của Thưông viện Pháp, nt.
- (30) - Quân Tử, tạp chí Dân Chủ và Phát Triển, số 13/10/98 ./.